Tin tức » Nhân Vật 15.12.2017 16:08
Sư huynh Pierre Trần Văn Nghiêm
® 13.09.2008 00:19 | 6170 hits ®

Xem hình
Sư huynh đã phục vụ trong các trường La San Việt Nam từ Bắc chí Nam (Puginier Hà Nội, Pellerin Huế, Adran Đà Lạt, Taberd Sài gòn), trong phân khoa Sư phạm của Đại học Đà Lạt, Đại học Thành Nhân Sài gòn. Sư huynh cũng đã đóng góp trong lãnh vực Sư phạm với các Đại học Sài gòn, Huế và Hòa Hảo......


Sh. Pierre Pierre  Trần Văn Nghiêm

Sinh ngày       

19/06/1908                                                                                             

Mặc áo dòng            

03/08/1921

Khấn trọn đời          

00/00/1933

Được Chúa gọi về    

05/04/2001

Vài nét về cuộc đời Sư huynh Pierre Trần văn Nghiêm :

Sư huynh Pierre sinh ngày 19.6.1908 tại Phú Mỹ Sài gòn, Việt Nam.

Sư huynh nhập đệ tử viện các Sư huynh La San tại Huế ngày 3.8.1921, khấn dòng lần đầu tiên ngày 15.8.1925 và khấn trọn đời năm 1933.

Sư huynh đã phục vụ trong các trường La San Việt Nam từ Bắc chí Nam (Puginier Hà Nội, Pellerin Huế, Adran Đà Lạt, Taberd Sài gòn), trong phân khoa Sư phạm của Đại học Đà Lạt, Đại học Thành Nhân Sài gòn. Sư huynh cũng đã đóng góp trong lãnh vực Sư phạm với các Đại học Sài gòn, Huế và Hòa Hảo.

Sư huynh còn là một thành viên đắc lực và uy tín trong Hội đồng Văn hóa Giáo dục Quốc gia của Việt Nam Cộng Hòa trong 3 nhiệm kỳ liên tục cho đến 1975.

Tỵ nạn qua Pháp năm 1977, Sư huynh là một trong các sáng lập viên của Hội Alder để phục vụ các người tỵ nạn Việt Nam và Á Châu. Và cho đến những ngày cuối cùng, Sư huynh vẫn hăng say hoạt động với Hội trong mọi công tác, nhất là phục vụ các em qua các góp ý và trao đổi mới đây với các Phụ huynh học sinh, nhân chương trình Giáo dục Sinh lý của chính phủ Pháp đưa ra trong học đường, cố gắng chỉnh đốn các sai lệch nếu có để mang đến cho con em chúng ta một sự giáo dục trong lành và tốt đẹp. Cho đến phút chót, Sư huynh Pierre vẫn là một nhà Giáo dục nhiệt tình, xứng là con cái của Thánh Gioan La San, Quan Thầy các Nhà Giáo dục trên thế giới.

*     *
*

Tôi vẫn còn nhớ mãi, một sáng mùa xuân, theo bước chân cha mình lẹ bước trên vỉa hè “kinh thành ánh sáng”. Một cụ già đã ngoài 80, mà vẫn còn thoăn thoắt đi nhanh như thế này, thì phải có một động lực nào mạnh lắm, một mãnh lực tình yêu nào thật dào dạt thúc đẩy. Và tôi đã nhận ra ánh sáng khi nghe tiếng Frère Pierre gọi cha tôi : “Sanh !”.

Một tiếng gọi gỏn gọn, nhưng chất ngất tình thầy trò, gói gọn hơn cả ba phần tư thế kỷ yêu thương, dấn thân cho từng “đứa học trò” của Frère Pierre. Và cha tôi đã thật lễ phép thưa lại :

“Bonjour cher Frère”, một tiếng chào gợi lên cả một khung trời kỷ niệm những năm tháng cha tôi được vinh phúc học cùng Frère Pierre ở trường Pellerin, Huế.

Bấy giờ ánh sáng Paris mới thật rực chiếu trong lòng tôi. Thì ra, cụ già 85 tuổi ấy, vừa từ Mỹ sang Pháp, đã đòi cho được, và nôn nao đi gặp lại thầy cũ của mình – “Frère Pierre”. Bấy giờ tôi mới hiểu tại sao mỗi lẫn hai tiếng “Frère Pierre” được nhắc đến là cả một pho chuyện tuôn trào như giòng nước Hương Giang những ngày lụt lớn, không những từ cha tôi, mà ngay cả từ những cụ già, những người lớn, những thanh niên trẻ tuổi.

Không những cựu học sinh Việt Nam ngưỡng mộ, kính phục Frère Pierre như một nhà giáo dục tài ba, một chuyên gia sư phạm nổi danh, một “ông Frère” tận tình với học sinh, mà ngay cả “Tây con” cũng thương quý Frère Pierre, thương đến độ chính chúng làm mất “vị thầy đáng yêu” của chúng !

Một chàng thanh niên nam kỳ, nói rặc giọng Sài gòn, nhưng nói tiếng “Tây như Parisien”, chưa tròn 30 tuổi, được nhà dòng gởi đến phục vụ tại trường Puginier Hà Nội. Chỉ trong một thời gian ngắn, với khối óc luôn sáng tạo, với con tim nhạy cảm, và một chí quyết “lì lợm”, Frère Pierre đã khai phá một lối dạy mới, rất hữu hiệu về văn chương Pháp cho mấy chú Tây con. Thấy con em về nhà học hành tấn tới, các ông Tây, bà Đầm cũng đem lòng mộ mến “ông Frère người Annamite”. Còn học trò của Frère thì khỏi nói, chúng xem Frère Pierre như thần tượng. Thế là vào ngày Tết Nguyên Đán 1937, được cha mẹ cho tiền, mấy chú Tây con rũ nhau mặc áo dài Việt Nam, đội khăn đóng cho giống như phong tục tập quán của thầy chúng nó, rồi mua hoa đến lớp mừng Tết thầy, chúc tuổi thầy. Sau khi đứng khoanh tay vây quanh thầy, chúng chúc Tết Frère Pierre không những bằng tình thương gởi gắm qua cành đào Hà Nội, mà còn cả niềm tin yêu nồng cháy trong tiếng pháo nổ. Cả sân trường Puginier và khu phố Rue Carreau vang dội tiếng pháo mừng xuân, mừng thầy của đám Tây con. Chúng đâu biết rằng, việc chúng làm đã khiến cho ban Giám đốc người Tây bực mình, và cho đó là một “sì-căn-đan” lớn trong một trường Tây. Thế là hai ngày sau Frère Pierre của chúng nhận được một bài sai từ Sài gòn điện ra cho lệnh rời đám học trò “Tây con xứ Bắc kỳ” xách va ly về Nha Trang. Và rồi ít lâu sau đó, ông Frère trẻ bị Tây liệt vào hạng “quậy” lại được lệnh xách va ly ra Huế.

Huế không mấy gì xa lạ với chàng trai trẻ gốc Sài gòn mang tên Trần Văn Nghiêm. Chàng đã đến đây ngày 3-8-1921 lúc chàng vừa mới 13 tuổi để nhập đệ tử viện dòng La San.

Bé Nghiêm chào đời vào ngày 19-6-1908 tại Thị Nghè trong một gia đình khá giả và đạo đức. Thuở còn nhỏ bé Nghiêm theo học trường học đạo với các Soeurs dòng Thánh Phaolô. Sau khi lãnh nhận bí tích Thêm sức, bé Nghiêm được cha mẹ gởi vào học tại trường Taberd. Tuy chưa học tiếng Pháp, nhưng nhờ thông minh và quyết tâm chăm học, chỉ trong một thời gian chưa đầy một tháng, bé đã theo kịp được lớp chót của Taberd : “la huitème” ! Rồi từ đó, bé Nghiêm cùng với bạn là Nguyễn Tân Hòa thay phiên nhau đứng nhứt lớp.

Sau khi tan trường bé Nghiêm thường ở lại Taberd làm bài, học bài, chơi với học sinh nội trú cho đến 8 giờ tối mới theo dân buôn trở về Thị Nghè. Ngày Chúa nhật bé lại vào trường Taberd để sinh hoạt học vẽ cả buổi sáng… Bên cạnh những giây phút tuyệt vời đó của tuổi thơ, bé Nghiêm còn được diễm phúc học cùng Frère Antonin, một vị thầy khả ái, dịu dàng và dạy rất giỏi. Cũng vì muốn trở nên giống Frère Antonin mà bé Nghiêm xin được vào dòng La San.

Năm 13 tuổi cậu Nghiêm từ giã cha mẹ, họ hàng và miền Nam thân yêu để ra Huế theo học đệ tử viện La San với hoài vọng sẽ trở nên một ông Frère giỏi như Frère Antonin, thầy của cậu. Năm lên 16 tuổi, với con tim đầy nghệ sĩ tính cậu quyết tâm bước theo bước nữa trong đời tu : vào tập viện Huế. Tại đây chàng nhận áo dòng và nhận tên mới, một tên sẽ đi vào tâm khảm của bao thế hệ học sinh, sinh viên Việt nam lẫn Tây con, Tây lai trên ba miền đất nước thân yêu FRÈRE PIERRE.

Sau 7 năm thụ huấn, vào năm 1928 Frère được sai đi phục vụ ở Hải Phòng. Cũng vì con tim nhạy cảm, mà một bông hồng Bắc kỳ đã lọt vào mắt xanh chàng trai Nam kỳ mới tròn 20 tuổi. Frère chỉ biết khóc trước mặt Chúa và tìm an ủi nơi tình thương của cộng đoàn các Frère với nhau. Cuối năm ấy, Frère được gởi về phục vụ tại Nam Định để giúp mở chương trình “primaire supérieur” tại đó vào năm 1929. Nhận thấy chương trình này thành công, các bề trên gởi Frère lên Hà Nội vào mùa hè năm ấy để một chương trình tương tự cho học sinh Việt Nam. Đang sung sướng phục vụ học sinh tại thủ phủ của miền Bắc, Frère lại bất ngờ nhận được bài sai trở về Nam Định. Từ buồn phiền đổi thành vui sướng, Frère đã đem hết sức mình ra phục vụ tuổi trẻ Nam Định. Tại đây, nghệ sĩ tính của Frère Pierre bắt đầu trổ hoa. Mùa Noel thì cho học sinh làm Máng Cỏ, các lớp thi đua trang trí, mùa Tết thì tổ chức văn nghệ, đến ngày 15-5, lễ Thánh Gioan La San, Bổn mạng các nhà giáo dục thì Frère lại tổ chức rước kiệu và các trò chơi dân gian. Chỉ trong vài tháng dân Nam Định biết đến danh trường và cha mẹ thi nhau gởi con đến ch các Frère dạy dỗ. Học sinh trường Nam Định nổi danh nhờ nhiều em đậu “diplôme” hay “brevet élémentaire”.

Vào năm 1931, sau 10 năm xa nhà, Frère Pierre được phép xuôi Nam về thăm gia đình ở Sài gòn, rồi trở lại phục vụ tuổi trẻ Nam Định thêm một năm nữa. Năm này mới thật là năm khó khăn cho “ông Frère trẻ” lắm tài, vì một tình cảm bất ngờ đã xâm chiếm con tim Frère khi Frère trở về Sài gòn thăm nhà. Một năm trời chiến đấu, một năm trời tôi luyện chí quyết hiến thân. Cuối năm ấy, Frère lại được gởi về đất Thần Kinh, xứ Huế lãng mạn như thể để tiếp tục tôi luyện con tim. Cuối cùng, Frère đã dứt khoát và khấn trọn đời vào năm 1933.

Tại Huế, sau khi nghe Frère Pierre giảng bài đầu tiên về Milly của Lamartine, một học sinh đã buộc miệng khen “J’ai trouvé mon maitre” (tôi đã tìm được sư phụ). Và vào năm 1996 cụ già học sinh thuở xa xưa ấy, với nét bút lão thành 82 tuổi, đã viết : “J’ai toujours pensé à vous comme à l’un de mes plus grands bienfaiteurs. Je ne cesse de raconter à mes enfants que j’étais tous yeux et toutes oreilles à vos réflexions au commencement de la classe du matin et ne manquais pas de les noter le soir sans manquer un détail. Oui, cher Frère, Dieu s’est servi de vous pour me former tel que je suis à cette heure.” (Con vẫn hằng nhớ Frère mãi như một ân nhân vĩ đại của đời con. Con hằng kể cho con cái rõ là thuở còn học sinh con mê nghe lời Frère dạy các bài suy tư của Frère vào đầu lớp buổi sáng và con không bao giờ quên ghi chép lại không bỏ sót một chi tiết nào vào ban tối. Frère à, thật Chúa đã dùng Frère để đào luyện con nên người như ngày hôm nay).

Sau hơn 18 năm xa rời nơi chôn nhau cắt rốn, phục vụ tuổi trẻ hai miền Trung và Bắc. Frère Pierre được gởi về phục vụ tại Taberd năm 1939.

Tuy dầu được giáo dục theo kiểu Tây, nói tiếng Tây như Tây, yêu thích văn chương Pháp và rất nhạy cảm với những gì là “Français” nhưng tận đáy lòng Frère mãi mãi là người Việt Nam, yêu nước Việt, thương dân Việt không thua ai cả.

Với chiến tranh tạm lắng dịu, Trung ương Dòng đã quyết tâm trao việc điều khiển Tỉnh Dòng Việt Nam cho các Frère Việt Nam. Và năm 1951, Frère Cyprien Trần Văn Thiêng được trao phó trách nhiệm Giám Tỉnh. Frère Pierre lại được gởi ra Bắc làm Hiệu trưởng trường Puginier Hà Nội.

Với tư cách là Hiệu trưởng, Frère đã hoàn tất chương trình đệ nhị cấp và đã đón nhận các trẻ mồ côi vào học Puginier. Một trong những trẻ mồ côi năm ấy, sau nầy là docteur Trần Đức Tường viết như sau : “Bạn có biết Frère Pierre đón tiếp tôi như thế nào lần đầu tiên ở Puginier không ? Vào giờ ăn trưa, tôi không biết đi đâu, chỉ biết đứng nơi hành lang. Frère đã đến bên tôi và hỏi tại sao. Sau khi nghe tôi giải thích, Frère đã cầm lấy tay tôi, dắt tôi đi và cho một chỗ ngồi ở bàn ăn”. Chuyện này tôi sẽ không bao giờ quên được.

Nhận thấy khả năng sư phạm của Frère Bề trên Giám Tỉnh Cyprien đã gọi Frère về làm Giám đốc Học viện La San.

Khi Đại học Công giáo Đà Lạt được thành lập Frère được mời đến dạy trong khi Frère vừa đảm nhận trách nhiệm làm Hiệu trưởng trường Adran. Vào năm 1958, nhận thấy các trẻ nhỏ cần sự dịu dàng của nữ giới, Frère là người đầu tiên mời các nữ giáo viên vào dạy các lớp tiểu học La San.

Một thời gian sau, Frère được mời mở phân khoa Tâm lý, Sư phạm tại Đại học Đà Lạt.

Bên cạnh nhiệm vụ khoa trưởng, Frère Pierre còn được mời dạy ở Giáo hoàng Học viện Đà Lạt, hướng dẫn các khóa tu nghiệp của các trường Cao đẳng Sư phạm của chánh phủ ở Sài gòn, Huế, Cần Thơ. Ngay cả Đại học Hòa Hảo ở Long Xuyên cũng mời Frère về dạy. Frère đã đóng góp thật nhiều cho nền giáo dục tại Việt Nam, qua những giáo sinh, giáo chức Frère đã huấn luyện theo tôn chỉ « Lương Sư Hưng Quốc ».

Nhận thấy tài năng của Frère Pierre, chính phủ đã mời Frère vào trong Hội đồng Văn hóa Giáo dục của nước Việt.

Vào năm 1977 nhờ sự can thiệp của Chủ tịch Quốc hội Pháp, Frère Pierre rời quê hương để sang sống tại Pháp.

Vào tuổi đời 88, ai cũng tưởng Frère sẽ về hưu, nhưng không phải thế. Tuy sức khỏe đã yếu, nhưng tinh thần vẫn còn minh mẫn, Frère đã không ngần ngại nhận lời chuyển dịch sang tiếng Pháp của Đức Hồng Y Nguyễn văn Thuận cùng cộng tác dịch những tác phẩm của Duyên Anh ; duyệt lại bản dịch giáo lý cho người trưởng thành (Catéchisme des Adultes) của Hội đồng Giám mục Pháp, và Đức tin Công giáo (La Foi Catholique), cũng như dịch bộ Lịch sử Giáo hội (L’Histoire de l’Eglise)…

Cuối cùng các hoạt động dấn thân phục vụ tuổi trẻ Việt Nam Tây con lẫn Tây lai và người Việt tỵ nạn của Frère Pierre trong hơn ¾ thế kỷ đã phải tạm ngưng khi Frère được 93 tuổi. Frère đã vâng lời các Bề trên rời khỏi cộng đoàn Việt Nam ở Ivry Sur Seine để về nhà Hưu dưỡng (Athis-Mons) tiếp tục sứ mạng giáo dục bằng cầu nguyện và bệnh tật của tuổi già. Chẳng bao lâu sau, Thiên Chúa đã gọi Frère về nhà Cha vào ngày 05-4-2001.

Frère Pierre thật xứng với lời Chúa khen thưởng :

Những ai giảng dạy đường ngay nẻo chính cho nhiều người,

sẽ muôn đời sáng chói như những vì sao.”

(Danien 12,3)

Trần Trọng An Phong, f.s.c.

VIỆN ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT GIỮA LÒNG DÂN TỘC VIỆT NAM 1957-1975

Sư Huynh (SH, Frère) Pierre Trần Văn Nghiêm người góp phần sáng lập Phân Khoa Sư Phạm và cũng là Giám Đốc Đại Học xá nam sinh viên ngay lúc ban đầu. ...

PHẦN III: KHỐI HỌC VỤ: CÁC PHÂN KHOA; CHƯƠNG XI: TRƯỜNG SƯ PHẠM

Trong Viện Đại Học, các cơ quan, đơn vị giảng huấn như phân khoa, trường và Thư Viện và cơ quan nghiên cứu, phòng thí nghiệm trong khối học vụ có tầm quan trọng riêng biệt. Lần lượt chúng ta sẽ phân tích quá trình phát triển của từng bộ phận này xuất hiện theo thời gian.  

1. Ban Điều Hành 

Linh Mục Viện Trưởng ở thời gian ban đầu (1958-1965) trực tiếp điều hành tổng quát Trường Sư Phạm với tư cách Khoa Trưởng. Người tham gia công tác điều hành và giáng dậy ban đầu cùng với LM Viện trưởng là Sư Huynh Pierre Trần Văn Nghiêm, B.A. về Văn Chương (1965-1967). Tiếp theo sau đó là Linh Mục Vũ Minh Thái, Ph. D. về giáo dục (1967-1975), với LM Mai Văn Hùng, OP, Tiến Sĩ Triết học, làm Phó Khoa Trưởng.

Trong Ban Điều Hành từ 1972-73 về sau, có hai GS Trần Văn Cảnh, GS Trần Văn Màu (Phụ Khảo) với ông Nguyễn Hữu Thu làm Thư Ký. Điều đáng chú ý là Trường Sư Phạm xây dựng một Hội Đồng Khoa thường xuyên với Lm Vũ Minh Thái làm CT, GS Nguyễn Đình Hoan, PCT và GS Trần Văn Màu làm thư ký. Ba Ủy viên là SH Nguyễn Văn Kế, Nguyễn Văn Trí và LM Nguyễn Hữu Trọng. Hầu hết những nhân viên giảng huấn này đều ít nhiều có liên quan đến Dòng La San, chuyên về giáo dục thanh thiếu niên trong các trường học Công giáo.  

2. Sinh hoạt chuẩn bị

Trong thời gian ban đầu, Trường Sư Phạm hướng dẫn tráng niên chưa có cơ hội thi lấy văn bằng Tú Tài nhằm hướng dẫn họ theo một giáo trình kỹ thuật[1]. Nhưng chí có 30 người ghi danh học, một sĩ số khiêm tốn, và một phân nửa đã bỏ dở nừa chừng. Do đó từ niên khóa 1958-1959, Viện thu nhận các sinh viên đã tốt nghiệp trung học có văn bằng Tú Tài Toàn Phần, nếu muốn theo học các ngành phân khoa đại học.

SH Théophane cũng có thời gian tham gia giảng dậy lớp Sư Phạm Giáo Lý cho một số nữ tu và giáo dân làm giáo lý viên. SH Gérard là người trực tiếp chịu trách nhiệm tổ chức GLSP này. Đây không phải là một phân khoa của Viện Đại Học nhưng được Viện bảo trợ. Trong số các vị phụ trách giảng dậy cho lớp sư phạm giáo lý đó, có LM Nguyễn Thế Thuấn DCCT, Nguyễn Văn Hòa, gốc địa phận Hà Nội (sau làm GM Nha Trang). Trong lúc đó, ngoài việc tham gia lớp SPGL đó, SH Théophane còn hướng dẫn về tu đức và cầu nguyện cho các nữ tu tại Tu viện Mến Thánh Giá Hà Nội ở khu suối Cam Ly. 

Biểu Đồ 10. Số Liệu Về Thành Quả Trường Sư Phạm, 1958-1973[2]

Niên Khóa

Sinh Viên

Ghi danh

Tốt nghiệp Cử Nhân

(1)

(2)

(3)

1958-59

49

00

1959-60

109

00

1960-61

163

44

1961-62

177

53

1962-63

140

58

1963-64

112

58

1964-65

051

51

1965-66

000

00

1966-67

109

00

1967-68

183

00

1968-69

120

00

1969-70

250

24

1970-71

336

15

1971-72

543

18

1972-73

565

41

Tổng Cộng

2805

362

Chú thích: 1/ Những sinh viên lớp tốt nghiệp đầu tiên chỉ học có ba niên khóa.

2/Từ 1958-1965, Trường Sư Phạm có giảng dậy theo hợp đồng với Bộ giáo dục năm khóa liên tục được 264 giáo sư trung học. Như thế sang niên khóa tiếp (1965-66) đã không có sinh viên nào ghi danh. Do đó bốn năm liền sau khóa đó không có sinh viên nào tốt nghiệp.

Hoạt Động Đại Học Sư Phạm Chính Thức 

Giai đoạn 1958-65

Viện Đại Học Đà Lạt cũng triển khai hoạt động hợp đồng với Bộ quốc gia giáo dục[3] để giảng dậy hai lớp sư phạm Triết học và Pháp Văn theo học trong ba năm. Mỗi lớp trung bình có chừng ba mươi sinh viên đều do BGD tuyển dụng. Các sinh viên được BGD cấp học bổng là 1.500 đồng/tháng. Trong suốt 5 khóa học thì tổng cộng có 264 sinh viên tốt nghiệp trở thành Giáo sư THĐ2C[4], giảng dậy tại các trường công lập trên toàn quốc.

Sư Huynh (SH, Frère) Pierre Trần Văn Nghiêm người góp phần sáng lập Phân Khoa Sư Phạm và cũng là Giám Đốc Đại Học xá nam sinh viên ngay lúc ban đầu. Sư Huynh Trần Văn Nghiêm giảng dậy về Tâm Lý Sư Phạm trong khi giữ nhiệm vụ khoa Trưởng có chú ý đến một tính cách tân kỳ[5] của Trường Sư Phạm Đà Lạt.

Sư Phạm được quan niệm là một thực năng riêng biệt với văn bằng, vì văn bằng cử nhân sư phạm chỉ được cấp cho những sinh viên nào có ít nhất ba trong bốn chứng chỉ đòi hỏi cho văn bằng Cử Nhân Văn Khoa hay Khoa Học. Bốn năm học về tâm lý sư phạm chỉ cấp chứng chỉ sư phạm, chứ không phải văn bằng Cử Nhân. Những sinh viên nào học trọn khóa chuyên môn, thì chỉ được cấp văn bằng Cử Nhân chuyên môn đó (Văn Khoa hay Khoa Học). Nhưng trọn khóa chuyên môn với chứng chỉ sư phạm thì được cấp hai văn bằng cử nhân chuyên môn và cử nhân sư phạm. Các Trường Cao Đẳng Quốc Gia ở Huế, Sàigòn và Cần Thơ chỉ cấp Văn Bằng Cử Nhân Chuyên môn và chứng chỉ Sư Phạm.

Chương trình tâm lý sư phạm được phân bố trong bốn năm sư phạm là: Tâm lý học đại cương, Tâm lý ứng dụng; Tâm lý thiếu nhi và thanh niên; Khoa sư phạm thực nghiệm; Phương pháp trắc nghiệm, Phân tâm học, Nhi bệnh học; Phương pháp hoạt động; Lịch sử giáo dục, Tính tình học, Xã hội học thiếu nhi.

Theo sư huynh P. Trần Văn Nghiêm, sau năm 1975, các sinh viên đến Mỹ định cư, có Văn Bằng Cử Nhân Sư Phạm Đà Lạt được chấp nhận có năng lực tương đương với BA hay BS trong hệ thống giáo dục Mỹ, trong khi từ khước tính cách tương đương đó với chứng chỉ sư phạm của nhà nước VNCH trước kia!

SH Théophane Nguyễn Văn Kế[6] và SH Mai Tâm là hai vị khác trong số các giáo sư tiên khởi của Trường Sư Phạm. SH Théophane cộng tác với Trường Sư Phạm từ năm 1962, phụ trách giảng dậy các bộ môn: Lịch sử Giáo Dục, Tâm Lý Xã Hội bên Trường Sư Phạm, và sau này Nhiệm Vụ Học[7]. SH Théophane coi dậy học là một sứ mệnh ông được mời gọi tham gia. Ông rất hăng say vì sự nghiệp giáo dục, như dọn bài giảng kỹ lưỡng, in giáo trình thành từng tập, mà sinh viên có thể mua dễ dàng ở cơ sở ấn loát của viện. Các sinh viên theo học với SH Théophane không thể không biết đến giáo trình kể trên, nhưng họ ưa chuộng tập “Giáo Dục Tình Yêu” hơn cả

 Niên học 1960-61, lớp Pháp Văn năm thứ ba của Trường Đại Học Sư Phạm có lẽ cả lớp gồm 18 sinh viên, trong đó có 8 nữ, còn để lại tấm hình chụp chung với giáo sư hướng dẫn lớp là một người Pháp. Lễ tốt nghiệp lớp này được tổ chức ngày 23/3/1961. Bảy sinh viên xuất sắc nhận được phần thưởng đặc biệt của nhà trường. Văn bằng tốt nghiệp được cấp phát ngày 29/3/1961 do Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục Trần Hữu Thế ký ngày 29/3/1971, sau khi LM Viện Trưởng Trần Văn Thiện đã ký hôm trước.  Năm thứ ba có 24 sinh viên Sư Phạm Ban Triết niên khóa 1960-61 lưu lại một tấm hình, trong đó chỉ có hai nữ sinh viên. Những hình ảnh này là chứng liệu cho thấy lớp học này đã thực sự diễn ra từ năm 1958 đến 1961.

Các sinh viên sư phạm ở giai đoạn ban đầu này được nhà nước tuyển mộ và khi tốt nghiệp sẽ được nhà nước bổ dụng.  

Giai đoạn 1965-1967

Trường Sư Phạm đào tạo Giáo Sư giảng dậy trong các trường tư thục. Chính thời gian này, Bộ GD đã cho phép Trung Tâm Sư Phạm Đà Lạt chính thức trở thành một Trường Đại Học Sư Phạm đúng nghĩa theo Giấy Phép số 7166/GD/PC1, ký ngày 26/9/1967. 

Giai đoạn 1967-1975

Trường Sư Phạm do LM Vũ Minh Thái, Ph.D. in Education, Hoa Kỳ, làm khoa trưởng. Trường Sư phạm được thiết lập sớm nhất cùng với Trường Văn Khoa, trong hợp đồng giàng dậy Triết học và Pháp văn với Bộ Giáo Dục.

Trường Sư Phạm có dự án mở rộng chuyên môn sang hai phạm vi giáo dục tổng quát nhành Quản Trị Kinh Doanh và Chánh Trị Xã Hội, đồng thời thiết lập thêm Ban Sư Phạm Âm Nhạc. Từ năm 1967, Trường Đại Học Sư Phạm chính thức được tổ chức theo đúng chức năng qui định theo học chế bốn năm cho văn bằng Cử Nhân Sư Phạm. Trường Sư Phạm chuyên giảng dậy về chuyên môn sư phạm nhưng dần dần kết hợp với ba Trường Văn Khoa, Khoa Học và Chánh Trị Kinh Doành về nội dung chuyên ngành giảng dậy.

Thực tế có nhiều ban thuộc các Trường Văn Khoa (Triết, Việt, Sử, Địa, Pháp, Anh) và Khoa Học (Lý, Hóa). Bộ Giáo Dục chấp nhận hợp thức hóa Trường Đại Học Sư Phạm Đà Lạt và cho phép cấp văn bằng Cử Nhân Sư Phạm theo Nghị định số 2675/GD/PCHV/NĐ, ký ngày 24/12/1969. Trường Đại Học Sư Phạm Đà Lạt mở rộng hoạt động mở mang dân trí cho cộng đồng dân tộc ít người, nên BGD cho Phép Trường được mở khóa huấn luyện cấp tốc cho 100 Giáo Sư Trung Học Đệ Nhất Cấp sắc tộc mỗi năm theo nghị định ký ngày 15/11/1972, mang số 2684/VHGDTN/NGV/NĐ. Khóa huấn luyện cho người dân tộc thiếu số được thực hiện từ năm 1973-74 về sau[8].

Tác giả Gs. Đỗ Hữu Nghiêm

(trích từ www.erct.com)

 





Lasan
(Theo Tỉnh Dòng Lasan Việt Nam)


Tin liên quan:
Lịch Sử Tỉnh Dòng La San Việt Nam [07.12.2013 23:43 | 1330 hits]
Sh. Barthlemy Bường Paul Lê Cừ [06.10.2008 17:33 | 2140 hits]


Bản để inIn bản tin  Lưu dạng fileLưu bản tin  Gửi tin qua emailGửi cho bạn


Ếnt Mảc Lương Huỳnh Ngân
Ngày:18-7-2013 Comment: 1
Ếnt Mảc Lương Huỳnh Ngân
Kính thưa Frère Em có ý định viết vài kỷ niệm về Frère Pierre kính yêu, cho quyển nhật ký 150 năm tĩnh Dòng LS, với tính cách là chứng nhân của hoa trái của đường lối Sư Phạm của ngài. Em rất vui được đọc bài này trên mạng. Cuộc đời tự nhiên và siêu nhiên của em được Chúa dẫn gặp ngài từ lớp 2De D'Adran Dalat để được hưởng giáo dục LS, cho tới những ngày cuối cùng chăm sóc ngài ở Bệnh Viện cũng như ở nhà Hưu dưỡng Athis M. LH Ngân ( Taberd 54-62 Adran 62-64)
Ngày tham gia: No info Personal Information

Ý kiến của bạn về bài viết:
Sư huynh Pierre Trần Văn Nghiêm
Tên bạn: *  (Ghi đầy đủ Họ và Tên có dấu của bạn)
Email: *  (Địa chỉ Email có thật của bạn)
Thảo luận *
(Vùng Soạn Thảo, nội dung soạn thảo phải rõ ràng, có tính chất phù hợp với nội dung thảo luận theo tin tức trên)

Mã kiểm tra chống SPAM:
Mã kiểm tra chống SPAM

Lặp lại mã kiểm tra: *

Những bản tin khác:
 CHIẾC XE HONDA CỦA SƯ HUYNH LA SAN [21.10.2012 03:51 | 2207 hits]
 Dâng Hiến Cuộc Đời Cho Thiên Chúa [04.05.2012 15:53 | 2066 hits]
 Màn múa lay động hàng triệu con tim [15.03.2012 12:23 | 1928 hits]
 QUÌ GỐI RƯỚC MÌNH THÁNH CHÚA [17.03.2010 06:05 | 1716 hits]
 SƯ HUYNH EXUPERIEN MAS, ĐÁNG KÍNH [11.01.2010 21:54 | 2136 hits]
 Sư Huynh Alpert đáng kính [11.01.2010 21:25 | 2019 hits]
 Vẽ Đẹp Hiệp Thông Nơi Đức Maria. [06.12.2009 21:36 | 1967 hits]



Gửi tin
Lên đầu trang
 
Lời Thánh Gioan Lasan 
Nếu anh em muốn những lời dạy dỗ của mình có hiệu lực thúc đẩy được những trẻ anh em có bổn phận dạy dỗ làm việc lành, thì chính anh em phải thực hành các điều đó, và phải đầy lòng nhiệt thành, ngõ hầu trẻ có thể nhận được sự thông ban ân sủng nơi anh em để làm điều lành. Lòng nhiệt thành sẽ thu hút Thần Khí Thiên Chúa ngự xuống trên anh em để linh họat chúng.
MR 194,3,2.
 
Tìm Kiếm 

 
Trung Tâm La San Đà lạt 

ALBUM NHẠC LASAN
Mừng kính thánh Gioan La San
Duy Quyết
Hiến lễ đời con
Diệu Hiền
Gặp gỡ Thiên Chúa
Xuân Trường
Chúa nói yêu con
Duy Quyết
Chúa Giêsu Ngự Trị Lòng Ta
Duy Quyết
19 - La San Đi Tới
18 - Hoa Trái Dặm Trường 5
17 - Chung Tay Tiếp Bước
16 - Hoa Trái Dặm Trường 4
15 - Mái Trường La San
 
Thống Kê 
 Khách: 003
 Thành viên: 000
 Đang truy cập 003
 Tổng lượt truy cập 004312389
 
Lịch Tra Cứu Bài Vở 
Tháng Mười hai 2017
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31
 <  > 
Trang Thông Tin của Tỉnh Dòng La San Việt Nam
53B Nguyễn Du, P. Bến Nghé, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
ĐT: 02838229934 - Email Ban Quản Trị : weblsvn@gmail.com

Lên đầu trang