Tin tức » Tài Nguyên Lasan » Đào tạo và ơn gọi 26.07.2017 15:00
DỰ TU HỌC NHẬP MÔN
® 18.07.2008 18:48 | 3238 hits ®

Xem hình
Cái thời hồn nhiên của Em đâu rồi ? Một mảnh vườn, một con suối, một khu phố, một mái trường xưa... đã đi vào dĩ vãng. Đọng lại trong em may ra chỉ còn những đổi thay ! Đổi thay trong thân xác, trong tâm lý, trong cách thức tư duy, có thể cả trong khát vọng và ước mơ ! Dòng chảy đang cuồn cuộn thật sự dũng mãnh và phức tạp :

Tỉnh Dòng Lasan Việt Nam

53B Nguyen Du Saigon

Dự Tu Học

Nhập môn

Phần I

Nguyễn Phúc Đại fsc

Thượng Nghệ Là Đào Tạo Tâm Đức Thanh Niên

Thánh Gioan Lasan

Lưu Hành Nội Bộ

DỰ TU HỌC NHẬP MÔN

Nguyễn Phúc Đại f.s.c.

THƯ GỬI CHO NGƯỜI EM

Em !

Cái thời hồn nhiên của Em đâu rồi ? Một mảnh vườn, một con suối, một khu phố, một mái trường xưa... đã đi vào dĩ vãng. Đọng lại trong em may ra chỉ còn những đổi thay ! Đổi thay trong thân xác, trong tâm lý, trong cách thức tư duy, có thể cả trong khát vọng và ước mơ ! Dòng chảy đang cuồn cuộn thật sự dũng mãnh và phức tạp :

- Không thể cứ sống với những cái đã có, cái hiện có, mà phải đi tìm một cái gì đó, phải dự-định-là... là gì nhỉ ?

- Niềm tin mình sẽ là... tuy chưa có cơ sở, chưa được định hình, nhưng đã thấp thoáng bàng bạc trong Đức Tin Kitô, trong chiều sâu thẳm của hố đen tâm linh, trong cụ thể cuộc sống hàng ngày...

- Định hình đó là... làm sao cho nó lộ ra nguyên hình. Đó là công việc của Em, của chúng ta.

“Dự tu học nhập môn”, hay các công đoạn của lộ trình : “Tôi đi tìm tôi” là một loạt gợi ý có mục đích hóa giải những gì còn mông lung chưa định tính, đưa ra vài phương tiện cụ thể, hiện sinh, hữu hiệu để củng cố Đức Tin Kitô, để giải mã “Dự tu là gì?”, để biết phải bắt đầu từ đâu, phải thực hiện các tiến độ lộ trình tôi đi tìm tôi ra sao... cụ thể Em phải lần lượt học hỏi và cầu nguyện một khi Em muốn giải thích được câu hỏi : tại sao mình lại có ý nghĩ Dự tu ? Làm sao định giá được các nhu cầu cá nhân qua một Dự Tính Tự Huấn. Sau đó phải thực hiện việc Tự Huấn qua năm Trục – Bước để tiến tới cái “Tôi – dự – định – là” cùng với đồng bạn cùng trang lứa, đó là phần I gồm hai chương của khóa học.

Chương I : Tại sao lại Tự Huấn.

Chương II : Làm sao để Tự Huấn ? (năm thứ nhất)

Phần II gồm 3 chương, giúp Em quay trở lại đích thực con người Việt Nam : Đi tìm cơ sở tu hành trong nền văn hóa Việt Nam, từ đó nắm bắt một hình tượng người tu sĩ trong nền văn minh Nông nghiệp thuộc “Âm” không phải hình tượng một tu sĩ hiện thân của nền văn minh du mục thuộc “Dương”, mà chúng ta du nhập từ Âu Châu. Đừng quên Đức Kitô sinh ra ở Châu Á – nơi phát sinh ra hầu hết các tôn giáo và các vị chân tu (năm thứ hai). Nối tiếp là phần III, cũng gồm ba chương (năm thứ ba), qua đó Em sẽ tìm thấy một khái niệm “Tu” sau năm 2000, để có một hình tượng tu sinh thế kỷ 21, hơn nữa một tu sinh Lasan mới cái mà Em cần hội nhập, cái mình muốn là...

Chúc em kiên trì trong tìm kiếm và đầy ơn Chúa Thánh Thần.

CHƯƠNG MỘT

TẠI SAO LẠI TỰ HUẤN ?

Trong bất chợt nào đó, Em có linh cảm một nhu cầu tự huấn đã lờ mờ trong em như một cảm nghiệm, một tiếng nói mơ hồ thỏ thẻ : “Hay là mình đi tu, mà tu được không ? Tu chắc cần nhiều đức tính ? Chắc phải tự huấn dài dài ?!”

Còn những người khác thì sao, họ có những cảm nghiệm và nhu cầu như tôi không ? Trong cả hai trường hợp : Tôi – và kẻ khác, những ví dụ khảo sát sau sẽ đưa ra những cá nhân khác nhau, trong trường hợp khác nhau, đều có các dự định mong chờ khác biệt. Chính những mong chờ khác nhau này sẽ là một kích thích giúp ai đó muốn tự huấn, và giúp nói lên hoặc tự khám phá ra mình đang-muốn-là-gì ?

NHỮNG MONG CHỜ KHÁC NHAU

Tự huấn – hiểu như là một hành động tu thân rất đa dạng vừa mang ý Phương Đông vừa mang tính Kitô giáo. Việc tu thân này rất đa dạng, rất đặc thù nơi các cá nhân khác nhau. Qua các nhân chứng này, người dự tu có nhận ra mình không ? Có nhận thấy “cái-mình-muốn” là gì không ?

1. Bà Oanh : “Khi đứa con gái tôi theo lớp giáo lý ở xứ đạo, tôi có giúp đỡ và khích lệ cháu. Cô giáo lý viên nhấn mạnh đến việc “đồng hành” với con cái ở gia đình. Thú thật, tôi chẳng hiểu đồng hành là gì ?” Tôi ngần ngại trước các câu hỏi của con tôi”.

  • Mong chờ của bà Oanh :

- Trả lời được các câu hỏi của con gái.

- Có thể nói về “đồng hành” với con trong việc tự huấn của con gái.

2. Anh Mạnh : “Tại xưởng Bason, cùng với Minh một người bạn TSC cũ, hai chúng tôi có đi dự buổi hội thảo ĐTNCSHCM, đề tài “thế hệ thứ 3”. Tôi dám chắc, là một người công nhân thuộc Đoàn TNCS vẫn có thể giữ Đức Tin Công giáo – nhưng phải thú nhận rằng, giữ được Đức Tin trong môi trường này quả là khó, cần kiểm tra lại mỗi ngày !

  • Mong chờ của anh Mạnh :

- Tìm được các dạng khác nhau trong cuộc sống xã hội XHCN mà người Kitô giáo gặp phải.

- Tìm ra mối tương quan giữa Phúc âm và đời sống thường nhật.

3. Bạn Yến : “Sống với cha mẹ tại một làng quê tỉnh Bình Thuận, tôi khó tin là có thể sống đạo khi cả huyện không có một linh mục. Nhà thờ đổ nát vắng hoe. Tuy nhiên tôi vẫn tham gia vào nhóm “Tông đồ” giáo dân đã có từ mười năm nay để cùng nhau sinh hoạt tôn giáo”.

  • Mong chờ của bạn Yến :

- Tìm ra những chuẩn đích để chọn lựa cách thức cầu nguyện và giúp người khác cầu nguyện mà không có Linh mục hay Tu sĩ giúp đỡ.

- Làm rõ ý nghĩa về Giáo hội và vai trò của mỗi giáo dân.

4. Cô Xuyến : “Từ khi ly dị chồng và bắt cặp với Sơn, tôi cảm thấy mặc cảm và tự động xa lánh nhà thờ, Giáo Hội. Đôi khi ý tưởng nổi loạn và buông xuôi bộc phát nơi tôi, đôi khi mặc cảm tội lỗi xâm chiếm đời tôi. Làm sao thoát ra ? vì trong sâu thẳm tâm hồn, tôi không hề có ý xa Chúa, nhưng lại cảm thấy bị loại trừ khỏi Đức Tin Kitô”.

  • Mong chờ của cô Xuyến :

- Hiểu rõ quan điểm chính thức của Giáo hội về ly dị.

- Xét lại khái niệm ly dị và Giáo hội với các vấn đề đạo đức cụ thể.

5. Bạn Phương : “Trong khi theo học ngành kỹ sư, nhiều mảng Đức Tin của tôi đã sụp đổ. Tôi nghi ngờ về Chúa, về sự sống lại của Đức Kitô và ngay cả sự Sáng Thế. Các bài giảng của Linh mục ở nhà thờ chẳng nói lên được điều gì. Duy nhất còn một thắc mắc : Phúc Âm cũng là chuyện tầm phào sao ?

  • Mong chờ của bạn Phương :

- Đưa sự hiểu biết về Kitô giáo lên ngang tầm với kiến thức khoa học của anh.

- Tìm ra mối tương quan hữu lý giữa Đức Tin và kiến thức khoa học.

6. Duyên : “Khi sống độc thân, tới một độ tuổi nào đó, tôi cảm thấy thấm thía cô đơn. Những cuộc đi chơi, du lịch không đủ sức khỏa lấp hố sâu hiu quạnh. Tôi đi tìm một sự hiện diện nơi bạn bè : không thấy ! nơi vui chơi : vô vọng ! Tôi nghĩ Tôn giáo có thể có cái gì đó giúp được tôi !”

  • Mong chờ của Duyên :

- Thông tin, rồi hóa giải nỗi cô đơn.

- Tạo lập một tương quan sống động người với người.

Nhận xét : Tất cả 6 con người trên đều đặc thù. Lịch sử đời họ có những hoàn cảnh khác nhau, nhưng có cùng một mẫu số chung : Biết thắc mắc và có những mong chờ thiết thân : Tự Huấn để đi đến cái-mình-muốn-là !...

NỘI TÂM HÓA – TỰ HUẤN

1. Những mong chờ của tôi :

Có nhiều từ khác nhau để cùng nói về một ý : Tự Huấn.

    • Đào sâu Đức Tin.
    • Tôi tự huấn để thể hiện những gì tôi mơ ước.
    • Nhìn lại vấn đề cho rõ.
    • Gội rửa những gì tôi đã có.
    • Học hỏi để nắm bắt những gì người ta đã dạy tôi một cách hời hợt.
    • Tuyển lựa cái chính, dẹp bỏ cái phụ.
    • Hiểu rõ những gì đã biến đổi trong cách sống đạo.
    • Tiêu hóa những nền tảng của Kitô giáo.
    • Hiểu rõ những gì tôi tin.

Tất cả chỉ là những từ trống rỗng, nếu tôi không nắm bắt được một cách tiệm tiến cái-mà-tôi-thực-sự-muốn-là !

2. Còn Em, Dự Tu ?

    • Em đang ở đâu ? hoàn cảnh và lịch sử đời em ?
    • Những mong-chờ-của-riêng-Em ?
    • Em có thấy đôi khi bị khủng hoảng trước một biến cố ?
    • Cuộc sống, sự thay đổi, thói quen hàng ngày có thay đổi gì nơi bản thân Em ?
    • Hoặc ngược lại, cảm giác ù lì làm cho em e ngại ?

Thực hành : Hãy chọn một khoảnh khắc yên tịnh, một mình cầu nguyện rồi ghi vào “sổ tay Tự Huấn”, phần “các mong chờ”, những ước vọng, những mong muốn Tự Huấn để tu thân của Em.

3. Cho bản thân hay cho kẻ khác ?

Lúc đầu, ý muốn Tự Huấn có thể vì những lý do cá nhân, hoặc vì một nhóm nào đó, Em đang sống.

- Cho bản thân :

    • Tự canh tân mình, hoàn chỉnh những gì mình đã học trước đây ?
    • Phát triển khả năng cá nhân, khám phá những lãnh vực bản thân chưa có ?
    • Thỏa mãn trí tò mò, tìm ra giải pháp nào đó cho các thắc mắc của mình ?
    • Vượt qua một chặng đời, từ thành ra tỉnh, từ Trung học lên Đại học, từ đời sống gia đình tới đời sống tập thể, trước một đại tang v.v... ?

- Cho kẻ khác :

    • Đạt được một bản lãnh để chu toàn một trách vụ vừa được trao.
    • Tham dự vào sức sống của nhóm, của Cộng đoàn, của Giáo hội.
    • Trao lại cho giới trẻ những gì Em thích có được, khi cùng tuổi họ.

Thực hành : Còn Em, Dự Tu, em tu thân là cho bản thân hay để cho kẻ khác ?

Khi ghi chú vào mục “những mong chờ” trong tập “sổ tay Tự Huấn”, em nhận thấy mối tương quan nào nảy sinh từ các dẫn chứng trước đó.

TỰ HUẤN CHƯA PHẢI LÀ TẤT CẢ

Để tồn tại, ta cùng lúc cần hoạt động cụ thể, cần rung cảm với con tim mình, cần cảm thông với chính lý trí của mình. Để trở thành Kitô hữu đích thực cũng cần sử dụng tất cả những thứ đó, vì thế Tự Huấn là sử dụng tốt trí khôn của mình, chính là “Biết”, “học hỏi”, “suy tư”. Những điều này chưa đủ để thành Kitô hữu, nhưng ngược lại chúng ta không thể là Kitô hữu mà không có sự đóng góp của trí khôn. Cũng vậy, Tự Huấn không giải quyết được mọi vấn đề : nó không phải là thần kỳ để có thể thỏa mãn mọi yêu cầu.

    • Khi tự hỏi : Phải làm gì ? vấn đề của ta biến thành cụ thể, khi đó Tự Huấn sẽ soi sáng ta, nhưng không đưa ra được một giải pháp có sẵn, không thể miễn cho ta khỏi quyết định.

Khi ta cảm thấy khó chịu, chính là lúc vấn đề của ta mang tính cảm xúc “làm sao sống cho tốt hơn ?”

- Học cách sống như Kitô hữu, điều này không có nghĩa gạt bỏ mọi tình cảm, mà còn phải đặt cả cuộc đời ta dưới dấu chỉ “Đi tìm hạnh phúc” nữa. Đôi khi vấn đề lại là tìm ra một ngôn ngữ cho phép ta nói lên được những gì ta Tin với chính ngôn ngữ của ta. Tự Huấn sẽ giúp để chính ta luyện được cái ngôn từ này : Chúng ta không bao giờ hoàn tất được công việc rèn luyện này. Trong mọi trường hợp, Tự Huấn có thể giúp ta mạnh bước, nhưng không bao giờ đi thế ta. Tự Huấn không phải là một mục đích tu thân, nó chỉ là một phương tiện nếu ta biết dùng nó.

    • Tự Huấn Biến Đổi :

Tự Huấn là biến đổi : ta trở nên tài ba hơn, không còn nhìn sự vật rập khuôn, dù ta không hiểu sự biến đổi này xảy ra thế nào trong ta.

+ Tự Huấn có thể đụng đến các khía cạnh khác nhau nơi bản thân ta.

    • Nó có thể đụng đến :

+ Kiến thức : Ví dụ hiểu rõ lịch sử Giáo hội.

+ Cách xử trí : Ví dụ biết phân tích một bản văn Kinh Thánh, linh hoạt một buổi họp, đọc lớn trước công chúng.

+ Các thái độ : Ví dụ trở nên hòa hoãn hơn, hoặc cương quyết hơn.

    • Hiểu biết, hành xử, quan hệ với kẻ khác : ba chiều kích của cuộc sống, ba chiều kích của đời sống Kitô. Tự Huấn thường thiên về mặt kiến thức, nhưng không phải chỉ kiến thức thôi, vì chúng ta là Kitô hữu, với tất cả những gì chúng ta “là”, chúng ta “làm”, chúng ta “sống”.
    • Một số phương pháp Tự Huấn chỉ nhằm cung cấp kiến thức, một số khác lại nhằm khía cạnh kỹ thuật hoặc tìm cách thay đổi thái độ của đối tượng.

Thực hành : Còn Em, Dự Tu, Em nhắm đến gì ? Em muốn triển khai mặt nào trong con người Em ? Tới lúc này – đang ở ngưỡng cửa Huấn Luyện – Em đã nhận ra loại Tự Huấn nào thích hợp ? (Hãy ghi vào “Sổ Tay Tự Huấn Cá Nhân”)

Sự Biến Cải có thể là sâu sắc

    • Nó có thể chỉ tăng sự hiểu biết, hoặc dạy thêm cho ta cái gì đó.
    • Nó cũng có thể điều chỉnh lại những gì chúng ta đã biết : thí dụ sau khi đã học những tín điều trong Kinh Tin Kính, ta sẽ thấy rõ hơn mối tương quan giữa các tín lý, hoặc thấy rõ hơn cách thức phải “Đọc” Kinh Tin Kính thế nào ?
    • Nó có thể đảo lộn hoàn toàn cái nhìn của ta. Thí dụ một khóa Kinh Thánh sẽ giúp khám phá ra tiến độ hình thành một bản văn Kinh Thánh và như thế ta không còn phải tin là Đoạn Kinh Thánh đó là do “Thiên Chúa đọc cho tác giả viết lại” nữa.
    • Tự Huấn về lịch sử sẽ thay đổi thái độ của một Kitô hữu với các tín đồ tôn giáo khác (Tin lành, chính thống, Hồi giáo, Phật giáo).

Thực hành : Thích khám phá, khoái đảo lộn, hưng phấn trước cuộc vui, trần trục trong lo lắng, ta mong chờ gì ? và nếu đã từng cảm nghiệm thì cảm thấy gì ? Và đã trao đổi cảm nghiệm này với ai ? (ghi vào “Sổ Tay Tự Huấn”)

TỰ HUẤN BẰNG CÁCH NÀO ?

Ý thức là mình có những mong chờ. Tự Huấn có thể làm thỏa mãn một số các mong chờ đó. Nhưng phải làm sao để đạt kết quả mong muốn ?

BA ĐIỀU KIỆN ĐỂ TỰ HUẤN

  • Tất cả đều có thể là chất liệu Tự Huấn :

- Các câu hỏi mang tính giáo dục.

- Các Bài Kinh Thánh đọc ngày Chúa Nhật.

- Một công tác mới (thí dụ đi làm giáo lý viên).

- Các biến cố trong Giáo hội địa phương.

- Những đổi mới của xã hội, chính sách nhà nước v.v...

  • Mỗi yếu tố là một mời gọi suy tư cách sống đạo, nói khác đi, chính đời sống là nhà huấn luyện bước đầu của ta. Nó bao gồm ba điều kiện :

1. THỜI GIAN : không phải chỉ theo một hai bài là đủ. Tự Huấn là một tiến độ đòi hỏi thời gian. (Thí dụ tham dự một khóa học hay hội thảo mỗi tháng, trong một năm).

2. SỰ HỢP LÝ : Nếu cứ nhảy từ chủ đề này sang chủ đề khác, sẽ không thể có Tự Huấn. Phải có thì giờ đào sâu một chủ điểm (thí dụ : học kỹ một Phúc Âm, phân tích rõ các tín điều của Kinh Tin Kính, học lịch sử Giáo hội).

3. CÔNG VIỆC MANG TÍNH CÁ NHÂN : Khi chỉ ngồi nghe giảng, ta sẽ rất mau quên. Nếu ta ghi chú những điều tương đắc trong buổi họp, tóm lược những điều quan yếu trong một đoạn sách đã đọc, tham dự tích cực, góp ý trong buổi thảo luận tất cả sẽ góp phần giúp ghi nhớ lại những gì ta muốn tự huấn.

BẮT ĐẦU TỰ HUẤN THẾ NÀO ?

1. Lưu ý đến cái-Ta-đang-là :

Qui luật đầu tiên là khởi hành từ cái Mình-đang-là.

Thí dụ ta có thể tự hỏi :

- Ta đã bỏ học sớm hay vẫn tiếp tục cho tới hôm nay ?

- Ta có thói quen ghi chú ?

- Ta có theo các khóa họp, hội thảo, khóa học ngắn ?

- Ta có tham dự các nhóm hội thảo có chủ đề ?

- Sự hiểu biết về Đạo của ta đến mức độ nào ? Có tiến bộ, có đào sâu, hay vẫn còn ở mức “học giáo lý” ?

- Ta có đọc sách, theo dõi các buổi phát thanh, tham dự các khóa Huấn giáo về Kinh Thánh : lịch sử, niềm tin Tôn giáo, v.v...

2. Bắt đầu từ những gì ta thích :

Đây là qui luật thứ hai : Tùy theo ngành học, công việc làm, những công tác, tuổi tác, mà ta nhạy cảm với một số vấn đề thiết thân.

Thí dụ : một số người thích Kinh Thánh vì lẽ cách thức suy nghĩ của họ dễ dàng thể hiện qua một công việc như nghiên cứu một bản văn. Chúng ta thường nhạy cảm với các vấn đề liên quan đến cái ta thích tùy theo cái ta là con người văn chương, mỹ thuật hay khoa học. Trong nghề nghiệp ta có những vấn đề cá biệt, thí dụ : mối tương quan giữa một học sinh và một dự tu, giữa một lưu sinh và một học sinh ngoại trú, giữa các vấn đề thuộc Khoa học – Đức Tin, vấn đề sắc tộc, trách nhiệm. Còn nữa, tùy tuổi tác ta có thể bị lôi cuốn về : giáo dục, chính trị, hôn phối, dục tính, bệnh tật hoặc tử thần (đọc thêm : Les Etapes de la Vie adulte, Robert Comte, Coll. “Catéchèse d’Adultes” éd.du Cerf).

3. Tìm ra cách Tự Huấn thích hợp :

Vẫn lưu ý đến khả năng và những gì-ta-thích, cố tìm cho ra cái gì tương ứng với những-mong-chờ của ta nhất. Thật vậy, có những cách Tự Huấn khác biệt về trình độ và hình loại :

    • Có lối Tự Huấn mang tính cụ thể, khởi đầu bằng các kinh nghiệm, và cũng có lối Tự Huấn hoàn toàn lý thuyết !
    • Có lối Tự Huấn thiên về viết lách (dựa vào các tài liệu), có lối sử dụng hình ảnh (sơ đồ, bản vẽ, vidéo...), lại có lối dựa vào trao đổi trực tiếp (thảo luận nhóm, thuyết trình, mổ xẻ vấn đề (case study).
    • Có lối cần một sự khai thông ban đầu cho những ai muốn Tự Huấn. Lại có lối đòi hỏi một sự đào sâu, đối với các thành viên đã có một kiến thức cơ bản về Tự Huấn, có lối rất chung chung, phổ quát, có lối đặc thù rất chuyên ngành. Còn ta, Dự tu, ta bắt đầu công cuộc Tự Huấn từ cái mà chúng ta thích : Đó là cánh cửa chính đưa ta đến Dự Tu-Tự Huấn. Nếu ta tư duy nhiều hơn về cặp Dự Tu-Tự Huấn ta sẽ dần cảm thấy hứng thú để Tu Thân và có thể đi rất xa, cũng có thể ta đã thất vọng về lối huấn luyện nào đó trước đây (khó quá, lý thuyết quá, không hấp dẫn với cái-ta-mong-chờ-là). Nhưng, có thể là lúc đầu ta không được hướng dẫn tốt, điều này không có nghĩa là không còn lối thoát, trái lại là khác !
    • Từ cái-mong-chờ-là đến Tự Huấn.

Vinh : “Từ khi tôi theo học giáo lý, tôi chẳng làm gì để suy tư về Đức tin của tôi cả. Bây giờ, tôi muốn lấy lại các câu hỏi để thẩm tra lại mình ! Phải làm sao ?”

Đề nghị :

1. Có thể bắt đầu tìm hiểu về con người Đức Kitô, bằng cách đọc một trong bốn Phúc Âm từ đầu đến cuối (thí dụ Phúc Âm của Thánh Marcô, là Phúc Âm ngắn gọn nhất trong bốn Phúc Âm).

2. Nếu có một khóa Kinh Thánh nào đó, hãy mạnh dạn ghi danh tham gia.

3. Nếu muốn nhìn tổng quát thế nào là Đức Tin Công Giáo, hãy Tự Huấn bằng cách suy tư chầm chậm mỗi ngày Kinh Tin Kính.

Yến : “Tôi không thể ngờ là mình – trong một môi trường XHCN, toàn là con cán bộ và Đoàn viên, với các cuộc học hỏi và thi đua về Đảng, Bác, và Đạo Đức Cách Mạng – tôi và một số bạn công giáo lại có thể tồn tại được trong Đức Tin. Nhưng tôi thấy mình hoàn toàn không được chuẩn bị kỹ trước”.

Đề nghị :

1. Ở thành phố HCM, có nhiều khóa Giáo lý viên, có nhiều sinh hoạt Ca đoàn, có phong trào TSC, có các nhóm sinh hoạt sống đạo, hãy thử “đến và xem”.

2. Có thể ngỏ ý với cha sở để xin giới thiệu theo một khóa sinh hoạt “Sống Đạo” trong các môi trường “Không Đạo”.

3. Có thể đi dự lễ ngày Chúa nhật dành riêng cho các bạn trẻ, qua các bài giảng ứng dụng về cuộc sống hôm nay. Chìa khóa các vấn đề sẽ có cơ hội bật mở.

4. Hãy tham dự một khóa Kinh Thánh, cuối khóa hiệu quả sẽ là hiển nhiên.

Tuấn Anh : “Tôi có vài đứa bạn cùng lớp. Chúng thường hỏi tôi một vài vấn đề về Chúa, tôi thật chẳng biết phải trả lời ra sao cả ?”

Đề nghị :

1. Có thể đọc tuyển tập “Đường hy vọng” đã phát đều đều qua đài Caritas, Veritas bày bán ở các xứ đạo, và ở tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn.

2. Tại sao không tham gia vào các nhóm TSC và giáo lý viên ? Thế các khóa hội thảo vào buổi chiều Chủ nhật tại nhà thờ Chúa Cứu Thế – Kỳ Đồng thì sao ? Thử đi !

3. Sinh hoạt TSC ở Lasan Đức Minh 146/42 Võ Thị Sáu và ở Lasan Taberd 20 Lý Tự Trọng có thể là dịp học hỏi tốt về cách sống đạo của Thanh Niên-Học Sinh ngày nay đấy !

BA CÁCH THỨC TỰ HUẤN

Giữa các-mong-chờ và những chướng ngại mà ta gặp vẫn luôn có một kẽ hở ! Nói chung, trong mọi hoàn cảnh, ta có thể chọn một trong ba cách Tự Huấn sau :

1. Tự Huấn với kẻ khác :

  • Đây là cách tốt nhất. Trước tiên, cách này hấp dẫn nhất, vì :

- Ta học được sự hiểu biết từ một nhà Huấn-Luyện chuyên nghiệp.

- Ta gặp được những bạn bè có cùng âu lo, khắc khoải, dễ dàng trao đổi ý kiến.

- Gặp gỡ kẻ khác là gặp gỡ Đức Kitô, để sống kinh nghiệm về nhiệm thể Giáo hội.

- Ta khám phá ra Ngôi Lời – Lời Chúa cùng với họ.

- Ta có thể tranh luận với họ các vấn đề của xã hội hôm nay.

- Ta học được cách định giá đúng đắn về các khác biệt.

- Ta cảm nghiệm được là ta không phải và không thể sống đời Kitô hữu một mình. Nhưng lối Tự Huấn này có những đòi hỏi của nó : thí dụ cần phải đọc lại những ghi chú của ta hoặc phải đọc những tài liệu phụ có liên quan.

  • Tìm đâu ra lối Tự Huấn này ?

Ngày nay, nhiều khóa học được tổ chức tại mỗi xứ đạo, từ trình độ thấp nhất đến trình độ Đại học, tại các xứ đạo và các “Dòng tu” có những khóa gọi là Thường Huấn :

- Tổ chức cho các tu sinh dòng đó học tập chung với các thanh niên cùng lứa tuổi.

- Ngày nay, hầu hết các Dòng tu đều rộng mở cho những ai muốn sống vài ngày để nếm mùi vị Tu hành thế nào, tùy cấp độ, tùy địa phương.

2. Tự Huấn một mình :

Có thể Tự Huấn một mình với sách vở, tạp chí, băng video, cassette. Cái hấp dẫn của cách Tự Huấn này là ta tự do Tự Huấn. Ta chọn lựa chủ đề suy tư, và tuân theo tiến độ học hỏi theo khả năng và điều kiện cụ thể có được. Nhưng cách này cũng có những cái không ổn của nó. Ta rất có thể chỉ đi vài vòng hoặc trở thành thất vọng vì thắc mắc biết ngỏ cùng ai ? hoặc tự mình không thể tìm ra phương pháp tối ưu, bị lẩn quẩn trong chính các phán đoán của bản thân (ta không được soi sáng từ một nhà Huấn Luyện, cũng không gặp được các phản ứng trái ngược của kẻ có cùng mục đích như ta). Vì thế, chỉ kẹt lắm mới dùng cách Tự Huấn này.

3. Theo khóa Tự Huấn bằng thư tín :

Nhiều tổ chức đề nghị các khóa học hàm thụ qua thư tín từ xa. (Điều này quá khó khăn vì các tổ chức này đều ở nước ngoài, tài liệu bằng tiếng Anh, tiếng Pháp) Tự Huấn cách này có nhiều tiện lợi cho các cá nhân biết ngoại ngữ, và ở cách biệt với các đô thị lớn. Các tài liệu này đều có các chương trình học hỏi khác nhau được soạn sẵn cho các trường hợp đặc thù. Mặt khác, người ta thường yêu cầu các học viên phác thảo các chủ điểm cá nhân rồi gửi cho họ để hiệu-đính lại. Điều này cho phép học viên nghiền ngẫm một vấn đề tự mình giải quyết, và chỉnh lại bởi các chuyên gia, từ đó học viên rút ra được bài học cụ thể. Đôi khi các tổ chức này lại đề nghị học viên hãy tư vấn các trung tâm địa phương, và như vậy một cách gián tiếp lại khuyên học viên theo lối Tự Huấn với kẻ khác.

Thực hành : Còn Em, Dự Tu, em tự huấn bằng cách nào ? Hãy tổng kết các câu trả lời trong “Sổ Tay Tự Huấn Cá Nhân” của mình !

Xét xem bản thân có sống theo đường Tự Huấn nào chưa ? Về mặt Đức Tin, khía cạnh tu thân, giải pháp nào ta đã chọn lựa ? Vì lý do gì ? Theo hoàn cảnh cụ thể của mình vào lúc này, điều gì có thể đem vào thực hiện ? Hãy ghi câu trả lời vào :”Sổ Tay Tự Huấn Cá Nhân”.

TỰ HUẤN QUA NĂM TRỤC-BƯỚC, TIẾN TỚI CÁI TÔI-DỰ-ĐỊNH-LÀ cùng với đồng bạn.

Để Tự Huấn trong Đức Tin, cần quan tâm đến những đòi hỏi đặc biệt của Kitô Giáo. Nói khác đi, phải Tự Huấn qua năm trục-bước của việc tự đào tạo thành một Kitô hữu.

Tùy theo sự khám phá ra mình đang “là” gì, đang “mong chờ” gì, ta sẽ có khuynh hướng chọn lựa lối Tự Huấn thích hợp. Thí dụ bạn Tuấn thích nắm bắt được các qui luật hoạt động Tông Đồ và đạo đức, trong khi bạn Yến lại muốn thấu triệt mối tương quan giữa Thượng Đế và Vũ Trụ. Thông thường, khởi điểm của việc Tự Huấn manh nha từ những gì ta thích, chính “cái-ta-thích” là cửa ngõ dẫn vào Tự Huấn.

Nếu ta có thể đào sâu những vấn đề ta thích, ta sẽ thấy thích thú Tự Huấn : nhưng khi bắt đầu cảm thấy thích Tự Huấn, lại nảy sinh nhiều câu hỏi mới. Thí dụ, cách thức Tự Huấn của ta có duy trì được những lãnh vực chủ yếu của đời sống Kitô hữu không ? Nói khác đi, rất có thể ta bị cuốn hút vào những gì ta thích thay vì vào những đòi hỏi của Đức Tin Kitô. Để làm rõ điều này, phải hiểu rõ thế nào là “Đời-sống-Kitô-Hữu” như thế mục tiêu của Tự Huấn là giúp ta sống tốt cuộc sống của một Tín hữu, từ đó mới đi tìm cái “mình-sẽ-là”...

Năm trục-bước để trở thành người Kitô hữu

1. Tin vào Đức Giêsu :

Đức Tin Công giáo, chính là niềm tin vào Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa, mặc khải cho mọi người qua Thánh Kinh và truyền giáo bởi Truyền Thống Giáo Hội.

    • Tự Huấn là hiểu rõ về Thánh Kinh, cuốn sách cơ sở của mọi Kitô hữu. Đồng thời Tự Huấn cũng bao gồm việc đào sâu “Tông Truyền tính” của Giáo hội. Thí dụ để hiểu rõ hơn những gì ta tuyên xưng Đức-Tin, ta phải hiểu rõ “Tin là gì ?” đã.

2. Giáo Hội :

Đời sống Công Giáo, chính là thuộc về Giáo Hội qua việc tham gia vào một Cộng Đoàn Kitô Hữu.

    • Như vậy Tự Huấn có thể giúp ta hội nhập sâu hơn vào sự hiểu biết thế nào là Hội Thánh. Tự Huấn sẽ mở ra trong ta nhu cầu Thừa Tác vụ của Giáo Hội trong thế giới ngày nay. Nó giúp ta định vị trong một cộng đồng Kitô Hữu.

3. Các Bí Tích :

Đời sống Công Giáo, chính là sự khám phá ra các Bí Tích, vì Bí Tích tạo ra mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người.

    • Tự Huấn có thể vạch ra hai hướng : hiểu rõ hơn các Bí Tích : phát hiện ra ý nghĩa dồi dào của năm phụng vụ (mùa vọng, Noel, Chúa Phục Sinh, Hiện Xuống).

4. Đạo Đức Luân Lý :

Đời sống Công Giáo, chính là sự dấn thân sống Phúc Âm, là đưa Đức Tin vào chính cuộc sống hằng ngày của ta.

    • Tự Huấn giúp thấy rõ những yêu cầu của Lời Chúa, trong cuộc sống riêng tư, sống gia đình, xã hội, nghề nghiệp và cả chính trị, văn hóa nữa.

5. Đời Sống Thiêng Liêng :

Đời sống Công giáo, chính là lời ca tụng những Hồng Ân của Chúa Cha, là nguồn mạch sự sống, là sự tham gia vào cuộc chiến của Đức Kitô, con Thiên Chúa, chống lại quyền lực sự dữ, là chứng nhân của Tình Yêu Thiên Chúa trong lòng Thế Giới dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh.

    • Tự Huấn giúp khám phá ra đời sống Thiêng liêng bao gồm toàn bộ hiện hữu của một Kitô hữu. Trong các độ tuổi khác nhau, trong lúc bị thử thách hoặc khi hạnh phúc, trong kinh nguyện hay trong hoạt động, tất cả đều phát triển thành một cuộc sống do Thánh Thần hướng dẫn.
    • Năm trục-bước trên là những chiều kích chủ yếu của đời sống Kitô Giáo. Không nên coi nhẹ bất cứ chiều kích nào, ngay cả khi ta thấy chưa hoặc không nhạy cảm với một vài chiều kích trên. Thí dụ, có người thấy đời sống Kinh Nguyện là tất cả, người khác lại coi đời sống Kitô chỉ tỏ hiện ra trong cuộc đời tu-trì, kẻ khác lại nghiêng vào việc dấn thân phục vụ kẻ khác : gia nhập các phong trào Tông đồ, nghiệp đoàn, chính trị, bảo vệ môi sinh, chống bất công xã hội... Đấy chính là cửa ngõ cá nhân linh hướng bởi Thánh Linh nơi mỗi Kitô hữu.
    • Tuy nhiên, nếu chỉ lao vào một, hai chiều kích mà không cố gắng hòa nhập vào các chiều kích còn lại, thì sẽ đi đến một sự mất cân đối-một sự hụt hẫng nửa vời của một Kitô hữu ; điều nên làm là, mỗi cá nhân phải tự vấn mình để nhận ra đâu là điểm yếu, đâu là điểm mạnh của bản thân để dung hòa.
    • Và điều này gây ra các hiệu quả trực tiếp cho việc Tự Huấn. Vì, người thì nói : Tự Huấn không cần thiết, điều cần là hành động ; kẻ khác lại chỉ biết tu thân, chỉ quan tâm đến một vài lãnh vực : Lịch sử Giáo Hội, Thánh Kinh, các Linh đạo đời Tu.
    • Mỗi cá nhân phải tự nhận ra phải làm gì để quân bình công việc Tự Huấn của mình. Cách tốt nhất là lưu ý đều cả năm trục-bước – dĩ nhiên không phải chỉ trong các khóa học, hay trong sách vở – mà trong toàn bộ lộ trình cá nhân Tự Huấn của mình.

Thực hành : Hãy ghi vào “Sổ Tay Tự Huấn cá nhân” – từ từ sẽ thấy lộ diện sự tiến bộ về cả năm trục-bước trong lộ trình Tự Huấn của mình.

1. Tin vào Đức Giêsu :

Vinh : “Tôi chưa tham dự khóa giáo lý nào, nhưng là một người đạo gốc, rửa tội từ nhỏ, tôi luôn có ý tưởng muốn biết rõ về Đức Kitô. Cuộc hành hương đến Lavang đã gây ấn tượng mạnh nơi tôi, và tôi thật sự muốn biết : tin vào Đức Kitô, có thể mang lại cho tôi được gì ?”

Phương : “Kiến thức về ngành kỹ sư đã thúc đẩy tôi chối bỏ những gì tôi học được về Thiên Chúa, và có lúc tôi thấy cái-gọi là Đức Tin, chỉ là một sản phẩm của Tư Duy. Nhưng tôi lại vẫn cứ muốn hiểu rõ hơn về Phúc Âm, để dứt khoát một lần giải tỏa các thắc mắc mà ngành kỹ sư gợi ra cho tôi”.

    • Là tín hữu, chính là sống kết hợp với Thiên Chúa và trong truyền thống Kitô giáo, là kết hợp với con người mặc khải duy nhất : Đức Giêsu. Do đó, hiểu biết Đức Giêsu đích thực, tức là toàn bộ lịch sử Do Thái, là điều không thể bỏ qua. Càng không thể bỏ qua việc tìm hiểu thế nào là “Thiên Chúa”, và qua Đức Giêsu, tìm hiểu mối quan hệ của Thiên Chúa với ta thế nào.

TỰ HUẤN DẪN ĐƯA TỚI GÌ

Thực hành : Tự Huấn về Đức Tin vào Đức Giêsu, điều này có nghĩa là gì ?

Hãy ghi câu trả lời vào “Sổ Tay Tự Huấn”

  • TIN :

Tin, không chỉ có nghĩa : “Tin là” hoặc “có quan điểm về” mà là “Tin tưởng vào” tin tưởng và hãnh diện vào một ai đó. Niềm tin này thay đổi tất cả : cách nhìn, cách làm, cách sống của ta.

Đã có nhiều thế hệ trước ta đã “Tin”. Tìm hiểu Đức Tin của họ sẽ giúp ta nắm bắt được thế nào là Tin nơi Đức Giêsu ngày nay, và Đức Tin chính là một nội dung kiến thức, vì sự việc ta tin vào Đức Giêsu sẽ có khả năng biến cải toàn bộ cách nhìn của ta về thế giới hữu hình và vô hình. Bắt đầu từ khuôn mặt của Thiên Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Linh đến khuôn mặt của anh chị em bên cạnh ta và chính khuôn mặt của ta.

  • KINH TIN KÍNH :

Gọi là “Kinh” theo thói quen, nhưng thật ra đây là câu đầu của bản Tuyên xưng Đức Tin khi các Kitô hữu khẳng định lại Đức Tin của họ một cách công khai và tập thể. Nội dung của Kinh Tin Kính đã được khẳng định xuyên suốt nhiều thế kỷ bởi các Công Đồng, các Hội Đồng Giám Mục của các cộng đồng Kitô giáo thời sơ khai.

Vì vậy, cần phải học cách đọc Kinh Thánh, Lời Chúa (tân ước và cựu ước). Sự hiểu biết Tông Truyền Kitô giáo qua các thời đại sẽ giúp ta lý giải Kinh Thánh và sống Lời Chúa trong các hoàn cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa, xã hội...

  • KINH THÁNH :

Là 73 bộ sách được viết bằng tiếng Hébreu hoặc Hy Lạp trong suốt gần một ngàn năm, bộ sách mà người Kitô giáo coi như được Thánh Thần linh ứng để mặc khải Ngôi Lời Thiên Chúa Cứu Thế.

PHẢI LÀM SAO ĐÂY ?

(Trường hợp thắc mắc của Vinh và Phương)

a. Vinh :

- Có thể tìm những bạn đồng lứa, những người cùng đi hành hương Lavang, để cùng nhau đối thoại, trao đổi những cảm xúc, những tin tưởng, những khác biệt và ngay cả những thành kiến nữa.

- Có thể tự mình đọc lại, hoặc với các bạn đã nhất trí trong buổi thảo luận trước đó, các đoạn Kinh Thánh những ngày Chúa Nhật để tái khám phá Tân ước, rồi Cựu ước.

- Rất có thể Vinh và các bạn sẽ khám phá ra Đức Giêsu, các tông đồ, các ngôn sứ, các thượng phụ đã sống Đức Tin ra sao.

- Cũng nên có những thời gian xen kẽ cầu nguyện qua chủ đề kinh Lạy Cha và Kinh Tin Kính, kết quả nhất định sẽ không nhỏ.

b. Phương :

- Cũng vậy, là một kỹ sư đầu óc duy khoa học, tại sao không đọc cuốn : “Tin vào Thượng Đế trong một thế giới Khoa học” của Antoine Delzant (Ed. Du Cerl)

- Cũng có thể theo một khóa học hay một vài buổi thảo luận với các bạn khác về những bế tắc Đức Tin của mình.

- Một vài ngày tìm hiểu và tĩnh tâm ở các tu viện Bénédictine Thủ Đức hay Châu Sơn, hoặc Thiên An Bảo Lộc, Huế rất có thể các bế tắc Đức Tin sẽ được gỡ bỏ mau lẹ.

- Cũng có thể tự giải quyết bằng cách đọc hai chương cuốn : Giáo lý cho người lớn của các giám mục Pháp (từ trang 149-163).

Thực hành : Còn tôi, Dự tu tôi có khi nào gặp các cảm giác như Vinh và Phương không ?

Hãy ghi các suy nghĩ của mình vào “Sổ Tay Tự Huấn Cá Nhân”.

2. Giáo Hội :

2.1 Oanh : “Từ khi con gái tôi tham dự khóa giáo lý Bao Đồng tại một xứ đạo nọ, với một sư huynh Lasan, cháu về kể lại cho tôi nghe những gì cháu học hỏi được nơi vị tu sĩ đó, tôi rất ngạc nhiên là những điều cơ bản về Giáo Hội mà bản thân tôi cũng không biết, có những câu hỏi con tôi hỏi để đố về Giáo Hội tôi cũng mù tịt. Từ đó, tôi có ý định phải tìm hiểu về Giáo Hội Công giáo”.

2.2 Mạnh : “Tôi là một Thanh Sinh Công, nên tôi nghĩ là chủ yếu Giáo Hội phải gần gũi con người cụ thể và các vấn đề thiết thân của họ. Chính vì cái nhìn này tôi cũng như các bạn tôi đều thích thú sứ vụ của Giáo Hội trong xã hội Xã hội Chủ nghĩa”.

2.3 Phương : “Còn tôi, tôi cần một sự giải trình rõ ràng, minh triết về Giáo Hội, tôi không hài lòng với các bài giảng ngày Chủ nhật của các linh mục, mặc dù tôi đã thử đi nhiều nhà thờ để cố tìm hiểu. Tất cả đều mơ hồ, thiếu mạch lạc và gần như là “nhồi sọ” và khinh khi giáo dân !”

    • Dù mối quan hệ của ta với Giáo Hội có nghiêng về khía cạnh nào đi nữa, thì ta vẫn thấy sự tồn tại rất hiện sinh của Giáo Hội :

- Báo chí rất thường nhắc đến Giáo Hội, các hoạt động tôn giáo...

- Người ta thường làm nổi bật vai trò của Giáo Hội trong các dịp lễ tang, cưới hỏi, rửa tội, các ngày lễ Giáng Sinh, Phục Sinh, Chúa Nhật v.v...

- Người ta còn quan hệ mật thiết với Giáo Hội hơn, nếu là một giáo dân trong một xứ đạo, là Giáo lý viên, là Thanh Sinh Công, v.v...

Tuy nhiên cảm nghiệm quan hệ với Giáo Hội có hai mặt : có những chi tiết về Giáo Hội rất dễ chịu, phấn khởi, nhưng cũng có những điều chói tai, gai mắt và đôi khi thật đáng thất vọng !

    • Vai trò của Tự Huấn là giúp ta vượt qua các cảm xúc ban đầu khó chịu đó. Tương tự không nên dựa vào vẻ bề ngoài để đánh giá một người, cũng không nên dừng lại nơi những gì ta thấy về Giáo Hội : Giáo Hội còn có một chiều kích vô hình, thiêng liêng, ta chưa thể thấy ngay lúc đầu.
    • Tự Huấn về Giáo Hội quả thật cần thiết để thấy rõ mặt vô hình và thiêng liêng của Giáo Hội và nhất là để thấy rõ mối tương quan của ta với Giáo Hội vậy.

Tự Huấn đưa tới... gì ?

Thực hành : Với tôi, Tự Huấn về Giáo Hội, điều này có nghĩa là gì ?

Hãy ghi các suy nghĩ của mình vào “Sổ Tay Tự Huấn Cá Nhân”.

  • Giáo hội : Giáo hội không chỉ là một hệ thống tổ chức với các bộ máy hữu hình. Giáo hội là cách thức từ đó mỗi cá nhân liên kết với cả một cộng đồng dân Chúa, cộng đồng các tín hữu, qua đó Thiên Chúa đề nghị giao ước của Ngài.

- Tự Huấn có thể giúp hiểu được : Giáo Hội đã bắt đầu thế nào, tương quan của Giáo hội với Đức Giêsu ra sao, lý do tồn tại của Giáo Hội, và Giáo Hội đã tiến hóa trong xã hội ra sao.

- Tự Huấn sẽ minh họa rõ một xứ đạo ra sao, một hạt, một giáo phận, một Thượng Hội đồng, một Công Đồng là gì ?

- Tự Huấn giúp trả lời câu hỏi : “Trong giáo hội, ai làm gì ? Vai trò của mỗi Kitô hữu ?”

- Tự Huấn giúp suy tư về mối quan hệ giữa người Do Thái, người Hồi giáo và người Kitô giáo.

- Tự Huấn giúp phân biệt và biện phân giữa người Tin Lành, người Chính thống, người Công giáo, và cách thức sống đạo của họ trong xã hội con người.

- Trong tất cả các điều trên, không nên chỉ nắm bắt các sự việc. Một Tự Huấn tốt về Giáo Hội sẽ thay đổi cái nhìn của ta về cả Giáo hội lẫn Xã hội. Tự Huấn sẽ đưa ta ra khỏi tầm nhìn cá nhân giới hạn, đưa ta đến một tầm nhìn rộng lớn của đại gia đình Kitô giáo.

- Tự Huấn cho ta thấy rõ ta là thừa kế của nhiều thế hệ tín hữu. Tự Huấn còn mặc khải cho ta nhiều lãnh vực xa lạ của mầu nhiệm Giáo Hội.

- Tự Huấn cũng làm ta ý thức được những cái nhỏ bé, những nỗi cùng cực, để thấy rõ chỗ đứng của ta, để trở thành những thành viên tích cực và trách nhiệm với Giáo Hội.

PHẢI LÀM SAO ĐÂY ?

(thắc mắc của Oanh và Mạnh)

  • Oanh : Vốn chỉ biết sơ sài về Giáo Hội, và nhìn Giáo Hội từ xa, có thể tìm ai đó – Thí dụ Linh mục chánh xứ, hay chính vị tu sĩ Lasan đã dạy Giáo lý Bao đồng cho con chị, để xin giải thích rõ hơn các câu đố-hỏi của cháu bé.

- Cũng nên tham gia các nhóm sinh hoạt đã có sẵn trong giáo xứ đạo, để nắm bắt các định hướng của giáo xứ.

- Nên chăng tham dự khóa hội thảo và giáo lý dành cho phụ huynh thường hằng năm tổ chức ở Dòng Chúa Cứu Thế – Kỳ Đồng T/P HCM ? Hiện nay, nhiều xứ đạo có tổ chức các khóa tương tự vào các dịp hè và các dịp thuận tiện tùy họ đạo.

  • Mạnh : Là TSC lại cần phải suy tư và đào sâu hơn về lịch sử Giáo Hội, thử tìm đọc cuốn : “Giáo Hội trong lịch sử nhân loại” của Paul Christophe.

- Nên chăng dấn thân thêm vào phong trào TSC bằng cách vận động nắm một vai trò lãnh đạo nào đó, lúc đó tất yếu sẽ tham dự những khóa đặc biệt về Kinh Thánh nhất là khóa về “Tông đồ Công vụ” hoặc các buổi thảo luận về “Các thư của Phaolô” thời Giáo Hội tiên khởi.

- Là TSC, tất cũng có dịp tham dự những buổi họp mặt rộng lớn các nhóm khác : từng vùng hoặc toàn quốc, từ đó sẽ trao đổi quan điểm của mình với các nhóm khác về hình thức công tác xã hội của một TSC.

Thực hành : Còn tôi, Dự Tu tôi đã và sẽ làm gì về hoạt động Tông đồ xã hội ?

Ghi các hành động tông đồ của mình vào “Sổ Tay Tự Huấn Cá Nhân”.

3. CÁC BÍ TÍCH :

Oanh : “Cháu Tú lớp 6, Trường Võ Trường Toản, mỗi ngày thường nghe các thầy bên Đại Chủng Viện Thánh Giuse kế bên đọc kinh và hát Thánh ca. Cháu đòi đi học lớp giáo lý Bao đồng ở xứ đạo Thị Nghè. Tôi phải khuyên cháu những gì ? Làm sao cho cháu hiểu tầm quan trọng của Bí Tích Thánh Thể trong đời sống Kitô giáo, mà chính mẹ cháu cũng còn lờ mờ ?”.

Phương : “Uyên muốn hai chúng tôi làm lễ cưới ở nhà thờ. Với cô, điều này là tối quan trọng, là tất cả. Tôi mong sao hiểu rõ hơn “điều đó” có thể thay đổi gì trong tình yêu của chúng tôi”.

- Tự Huấn là khám phá ra chỗ đứng của Bí Tích trong cuộc sống với Đức Kitô, cũng chính là hiểu rõ được từng Bí Tích và nhận ra được cách thức các Bí Tích giúp cho Giáo Hội tồn tại và sống động.

- Tự Huấn cũng còn đặt bản thân ta vào mối tương quan với các Bí Tích và biết cách sống với các Bí Tích ta đã nhận.

“Bí Tích” dịch từ Kinh Thánh từ ngữ “Mysterion”, từ này diễn tả ý : “Những gì Thượng Đế mặc khải cho con người” : cuộc sống với Ngài là nguồn vui đích thực. Để đáp trả, con người cần rộng mở bàn tay đón nhận hồng ân của Thượng Đế.

TỰ HUẤN QUI VỀ NHỮNG GÌ ?

Thực hành : Với tôi, dự tu Tự Huấn về các Bí Tích, có ý nghĩa gì ?

Hãy ghi vào “Sổ Tay Tự Huấn Cá Nhân” trang 9 và 10 sau một phút thinh lặng trong ý thức tự vấn lương tâm.

  • Có nhiều cách thức đề cập đến các phép Bí Tích.

- Ta có thể dễ dàng nhận thức được tất cả các Bí-Tích đều nói lên mối quan hệ của ta với Đức Kitô, đặc biệt là sự tham dự của ta vào cái-chết và sự-sống-lại của Ngài.

- Ta có thể theo một khóa học mang tính lịch sử về các Bí Tích, đặc biệt sự ra đời của Bí Tích Thêm Sức, Hôn Phối. Sự biến đổi của Bí Tích Hòa Giải.

- Ta cũng có thể khám phá ra những gì cấu thành Bí-tích : cử chỉ, lời nói, vật thể, đối tượng. Đây là các “dấu chỉ” diễn tả Hồng ân Thiên Chúa. Đây chính là khía cạnh nhân bản của Bí Tích, có nghĩa là Bí Tích đặt căn cứ vào “cái” mang lại cho cuộc sống hàng ngày một ý nghĩa.

- Ta cũng có thể đề cập đến một trong bảy Bí Tích : Phép Rửa, phép Thánh Thể, Phép Hòa Giải, phép Thêm Sức, phép Hôn Phối, phép Sức Dầu kẻ liệt và Truyền Chức. Bằng cách này ta quan sát kỹ khía cạnh nghi thức, từ đó nhận ra rằng cách nào Bí Tích đó mang lại ý nghĩa cho đời sống Đức Tin và cho đời sống của Giáo Hội.

PHẢI LÀM SAO ĐÂY ?

(Thắc mắc của Oanh và Phương)

  • Oanh :

3 Hãy tự trả lời cho bản thân vị trí của Bí Tích Thánh Thể trong chính cuộc sống của mình, trước khi khuyên nhủ con trai mình.

3 Nên chăng nhận xét về lối sống của cha xứ sau mỗi thánh lễ.

3 Tại sao không tham dự vào các khóa hội thảo của các giáo lý viên và các cha mẹ có con em chuẩn bị Rước lễ bao đồng hoặc Rước lễ lần đầu, qua đó Bí Tích Thánh Thể được giải thích chi tiết.

3 Có thể lật Tân ước, đọc kỹ các đoạn nói về các bữa tiệc, rồi so sánh và ghi chú lại tất cả các từ ngữ rất dồi dào về các bữa ăn trong đời Chúa Kitô, đặc biệt là Bữa Tiệc Ly, có nguồn gốc từ Cựu ước,...

  • Phương :

3 Hãy trao đổi lại với Uyên để rõ tại sao cô lại coi đám cưới ở nhà thờ là tối quan trọng ? Dự tính và ý nghĩa của hai người là gì ? Điều gì là quan trọng để bảo vệ tình yêu lứa đôi ?

3 Nên chăng trao đổi với các cặp sắp lấy nhau khác trong lớp Dự Bị Hôn Nhân thường tổ chức ở nhà thờ Kỳ Đồng dòng Chúa Cứu Thế.

3 Tại sao không trao đổi học hỏi kinh nghiệm của các cặp đã tổ chức đám cưới ở nhà thờ trước đây ?

Thực hành : Còn Em, Dự Tu ?

Hãy ghi lại các “trả lời” vào “Sổ Tay Tự Huấn Cá Nhân” trang 9 và 10 những gì là tâm đắc nhất trong quá trình học hỏi về các Bí Tích.

4. ĐẠO ĐỨC – LUÂN LÝ

    • Mạnh : “Trong xí nghiệp tôi đang làm việc – xí nghiệp liên doanh với Nam Triều Tiên, đang có sự mâu thuẫn lớn giữa các ông chủ Triều Tiên và giới công nhân Việt Nam về giờ phụ trội và lương bổng không tương xứng, và nhất là vấn đề sa thải bất cứ ai có ý kiến trái với ông chủ. Chúng tôi đã thảo luận nhiều xem có phải đình công – dĩ nhiên là qua công đoàn ngành – để chống lại họ và tự bảo vệ không ? Là một người công giáo, tôi có suy nghĩ là không biết Phúc Âm có giúp gì cho chúng tôi không ?”
    • Xuyến : “Trong cuộc sống lứa đôi có những bất đồng khó gỡ, tôi nghĩ chắc phải chọn lựa theo lương tâm : ly thân là hay nhất !”

3 Tự Huấn, là chủ động lấy các biện pháp để làm tốt hơn những gì cần làm, là nhìn vấn đề một cách minh bạch, khách quan... để được sống hạnh phúc hơn.

3 Tự Huấn là suy nghĩ chín chắn trước khi hành động.

3 Tự Huấn là lưu tâm đến kẻ khác và những gì họ nghĩ, họ làm.

3 Tự Huấn còn là truy tìm sự soi sáng trong Tân ước : tất cả những thứ đó mặc nhiên đã là một chọn lựa Đạo Đức luân lý rồi.

Tự Huấn về luân lý Đạo Đức. Điều này có ý nghĩa gì ?

Thực hành : Còn tôi, Dự Tu, Tự Huấn về Đạo Đức bao gồm những gì ?

Ghi vào “Sổ Tay Tự Huấn Cá Nhân trang 11 và 12.

  • Đạo Đức – Luân Lý :

3 Đạo Đức hay Luân Lý là hai cụm từ triết học nhưng cả hai đều có nghĩa là sự suy tư về những qui luật của hành vi con người, về điều Thiện và điều Ác, về những gì cần phải làm để được hạnh phúc.

3 Có những điều cấm kỵ, những qui luật, có những điển hình phải làm theo và có cả lương tâm của mỗi cá nhân để quyết định cuối cùng : vậy đâu là tương quan giữa những điều đó ?

3 Phúc Âm trước tiên không phải là luân lý Đạo Đức mà là một Hồng-Ân của Thiên-Chúa-Tình-Yêu. Điều này biến cải cuộc đời và chúng ta cần ý thức rõ hơn.

3 Có một thứ Đạo Đức luân lý Kitô Giáo không ? Hay chí ít, có một cách thức mang tính Kitô nào đó để sống Đạo Đức không ?

3 Ta có thể dừng suy tư của ta trên vấn đề này, nhờ sự trợ giúp của Kinh Thánh, của Tông Truyền, của truyền thống Giáo Hội, như các người Công giáo ngày nay thường nói và thực hành trong nhiều lãnh vực : chính trị, văn hóa, xã hội, gia đình, chuyên ngành, y tế, v.v...

PHẢI LÀM SAO ĐÂY ?

(thắc mắc của Mạnh và Xuyến)

  • Mạnh : có thể trao đổi với các công nhân Công giáo hoặc công nhân tôn giáo bạn : Phật giáo, Tin lành, v.v... để biết quan điểm và suy nghĩ của họ trên cùng một vấn đề xã hội.
  • Về mặt công đoàn ngành, Mạnh có thể nắm rõ các qui tắc đình công trước một số bất công mang tính nguyên tắc...
  • Nên chăng, sau đó, Mạnh tham gia vào một khóa Hội Thảo về Phúc Âm hay Kinh Thánh, để biết cách đọc các bản văn Kinh Thánh, biết cách hiểu được văn mạch của vấn đề, chứ không phải chỉ cố tìm một đáp trả trực tiếp nhưng quá hời hợt cho các vấn đề xã hội hôm nay.
  • Cũng có thể tham dự một cuộc thảo luận do Công đoàn tổ chức về các vấn đề tương tự hoặc các khóa thường huấn tại các xứ đạo. Dù tham dự hội thảo hay thường huấn thì nhất thiết cũng phải làm sao nắm bắt được một sự hiểu biết căn cơ về các qui luật kinh tế và các qui luật về Quyền lao động theo Hiến Pháp Việt Nam và Công Pháp Quốc Tế.
  • Tại sao không tham dự những khóa học của Thanh sinh công hoặc Thanh lao công nơi các xứ đạo. Từ các khóa này sẽ rút ra được bài học về các tương quan giữa giáo hội và giới thợ thuyền ; đặc biệt quan điểm của Giáo Hội trong quá khứ về lao động, các quan điểm xã hội của các giám mục, Giáo hoàng, nói chung của Giáo Hội sau Vatican 2.
  • Xuyến : Cô có thể đọc tài liệu của các khóa Dự Bị Hôn Nhân, hạnh phúc gia đình, bảo vệ tình yêu,v.v... có bày bán ở các nhà sách công giáo kế bên các nhà thờ.
  • Thường sau mỗi đợt tĩnh tâm mùa Phục Sinh có in lại các tài liệu có liên quan đến nhiều vấn đề thiết thân của người Kitô Giáo, trong đó có vấn đề Hôn Nhân, hạnh phúc lứa đôi của mỗi người Công Giáo.
  • Không phải chỉ khi gặp “vấn đề” hay có ý “ly thân” mới cần phải Tự Huấn về Luân Lý Đạo Đức, cũng không phải chỉ những cặp vợ chồng mới cần phải Tự Huấn, mà tất cả những ai muốn tháo gỡ cho mình hoặc cho người khác, thoát khỏi những “bế tắc” tương tự của Xuyến.

Thực hành : Còn tôi, Dự Tu, trong lãnh vực này, tôi có những suy nghĩ gì ?

Có thể ghi vào “Sổ Tay Tự Huấn Cá Nhân” trang 11 và 12.

Vài tài liệu :

3 Video : “Hồng Ân Thiên Chúa” (có lồng tiếng Việt), nói về một vị Giáo Hoàng hư cấu, dấn thân hoạt động và tìm hiểu xã hội và giới lao động.

3 Sách : “Các Tiêu Mốc Luân Lý” nhà xuất bản Salvator tác giả Xavier Thérenot (phiên bản Tiếng Việt có bán ở Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn).

5. ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG :

    • Minh : “Kinh nghiệm về bệnh tật đẩy đưa tôi đến những vấn đề cốt tủy của Tồn Tại : tôi là Ai ? Thượng Đế có chỗ đứng nào trong cuộc đời của tôi ? Khi tôi kiệt sức, làm sao có đủ năng lực để tiếp tục sống ?”
    • Phương : “Tôi luôn luôn sống tất bật. Cuốn sổ tay của tôi đầy nghẹt những hoạt động, dự tính và các cuộc hẹn, các số điện thoại, v.v... Tôi không có giờ để cầu nguyện, không có giờ để suy tư về mình, tôi sống bồng bềnh cuộc đời mình. Chính vì thế tôi khát khao có những lúc nghỉ ngơi, thư giãn. Nên chăng, tôi phải tổ chức lại “Một ngày hoạt động” của tôi ?”

3 Những trường hợp của Minh và Phương trên đây không phải là hiếm. Trong giai đoạn nào đó của cuộc sống, sẽ nổi lên một nhu cầu sống tốt hơn hay một yêu cầu cấp bách tìm ra an bình cho tâm hồn mình..

3 Trong các thử thách, đau khổ và bất trắc cũng như khi gặp các cơ may, các an ủi hoặc các biến cố mang lại hạnh phúc, chính những dịp này, xuất hiện những câu hỏi cơ bản nhất của cuộc sống.

- Những sự việc này giúp gì cho cuộc đời tôi ?

- Làm sao biện biệt tiếng gọi lương tâm, tiếng gọi của Thượng Đế trong sâu thẳm của tồn tại ?

- Bất cứ ai, một ngày nào đó, sẽ thấy phải đặt lại vấn đề tồn tại của mình, phải tìm ra được lý do tại sao mình hiện hữu, và nhất là giải đáp được câu hỏi thắc mắc muôn thuở : cái gì là cần có cho Tiếng Gọi Tình Yêu, cho hành vi “Thiện” của mình, cho sự hạnh phúc của bản thân, cho sự tạo ra hay nghiêng về cái “đẹp”... nói cách khác tất cả mọi người đều bị thúc để suy tư về cuộc “sống thiêng liêng” của mình.

TỰ HUẤN CÓ THỂ HƯỚNG VỀ ĐIỀU GÌ ?

Thực hành : Với tôi, Dự Tu, Tự Huấn về Đời Sống Thiêng Liêng, điều này có ý nghĩa gì ?

Hãy ghi vào “Sổ Tay Tự Huấn Cá Nhân” những tư duy của mình nơi trang 13 và 14.

Cảm nghiệm của con người và Đời Sống Thiêng Liêng :

  • Trong nhiều trường hợp, ở vào những khoảnh khắc bất chợt, cảm giác mình đang sống hời hợt, sống không lý do, sống như không phải mình sống rất mãnh liệt, thúc đẩy một sức bật mới – sức bật quay lại với chính mình.
  • Nói một người sống hời hợt, hay nội tâm sâu sắc, điều này ám chỉ gì ?
  • Đời sống thiêng liêng luôn liên quan đến sự khám phá ra hay chí ít là Đi Tìm cho mình một sự An Bình Nội Tâm, một niềm Hạnh Phúc đích thực.
  • Sự việc Tin Vào Đức Kitô có liên quan gì đến cuộc tìm kiếm trên ?
  • Đời sống thiêng liêng là một lối nhìn Đức Tin trên các sự kiện các gặp gỡ các nhịp sống mạnh của các Hiện Sinh, (Tình yêu, Tang chế, lúc được làm Cha mẹ, Khi bệnh hoạn, lúc Thành Công, v.v...)
  • Trước ánh sáng của Kinh Thánh, tất cả các nhịp mạnh của Hiện Sinh đều trở nên rõ ràng, thuyết phục.
  • “Đời Thiêng Liêng” không nhất thiết phải mang tính Kitô Giáo, mà chính là hành vi con người đi tìm cái-chính-yếu của hiện hữu mình.
  • Đối với người Công giáo, chính là cuộc sống theo Thần Khí Thiên Chúa nghĩa là sự tiếp nhận tình yêu của Ngài sẽ định hướng và nhuận thấm toàn bộ thời gian vật lý của con người.

VÀI HÌNH DẠNG CỤ THỂ

  • Trong Kinh Thánh, Cựu ước có kể lại một số cảm nghiệm cá nhân của ABRAHAM, MAI-SEN, ÉLIA, JÉRÉMIA... Tân ước cũng chỉ rõ thái độ của người môn đồ, của những ai theo gót Đức Giêsu.
  • Trong lịch sử Giáo hội, các trào lưu khác nhau về Đời Sống Thiêng Liêng xuất hiện, phát triển mạnh mẽ : đó là đời sống thiêng liêng của các nghị phụ, các tu sĩ trong hoang mạc của thánh Phanxicô thành Assise, của Têrêsa thành d’Avila, của Thánh Ignace de loyola, của Phanxicô de Sale, của Gioan Lasan...
  • Tất cả các trào lưu này ngày nay vẫn còn nhiều giá trị trợ giúp đời sống thiêng liêng của người Kitô Giáo.

KINH NGUYỆN CỦA NGƯỜI KITÔ GIÁO

  • Các kinh nguyện của người Kitô giáo có những đặc điểm riêng với những phương pháp cầu kinh, những dạng thức khác nhau như : khẩn cầu, tung hô, ngợi khen,... nhất là sự tương hợp chặt chẽ của kinh nguyện với các Bí Tích.

PHẢI LÀM SAO ĐÂY ?

(thắc mắc của Minh và Phương)

Sự trắc trở mà Phương gặp phải không chỉ do sự thiếu tổ chức, mà sâu xa hơn, là đời Phương chưa có một ý nghĩa, chưa có sự khát khao hạnh phúc, chưa có sự suy tư tích cực về hiện hữu của mình.

  • Phương : cần cùng bạn bè suy nghĩ thêm về các biến cố trong nhịp sống, về sự cân bằng nhân bản và đời sống tâm linh, về kinh nguyện Kitô, rất có ý nghĩa, từ lời nói, cử chỉ, thời gian và không gian, Phương và bạn bè có thể nói lên bản thân mình cầu nguyện thế nào !
  • Nên chăng tham dự vào các Bí Tích Thánh Thể và Hòa Giải.
  • Có thể Tự Huấn bản thân bằng sự suy tư về Tầm quan trọng của Lời Chúa. Thí dụ bắt đầu đọc và bắt đầu chia sẻ Phúc Âm. Cũng có thể tham gia học hỏi một vài linh đạo tu Đức : của Thánh Phanxicô de Sale, của Thánh Ignatio de Loyola hoặc của Thánh Gioan Lasan.
  • Minh : Nổi cộm lên với những cảm nghiệm sâu xa về hiện sinh : Bệnh tật, tang tóc. Anh nên tập đọc lại – hoặc riêng hoặc với bạn bè – những biến cố vui – mừng hoặc những sự kiện đau khổ, từ đó lắng nghe Chúa kêu gọi gì nơi bản thân ? Làm sao biện biệt được Thánh ý Chúa ? Hãy thử học hỏi về một nhân vật trong Kinh Thánh : lộ trình của nhân vật này ? Cách thức vượt qua thử thách, nghi ngờ ? Quyết định sau cùng của bản thân là gì ?

1. Hãy tìm một nơi yên tịnh rồi suy nguyện về lời Đức Kitô trên thập giá : (Mt 27,46 ; Jn 19,28 ; Lc 23,46) biết đâu Minh sẽ nhận ra được thái độ của Đức Giêsu – và từ đó thay đổi thái độ của mình – trước sự đau khổ và điều Ác.

Thực hành : Còn tôi, Dự Tu, tôi phải làm gì trong lãnh vực này ?

Hãy ghi lại những suy tư của mình vào “Sổ Tay Tự Huấn Cá Nhân” trang 13 và 14.

Vài Tư Liệu :

3 Coi và Suy niệm cuốn video đã lồng tiếng Việt “Mầu Nhiệm Mân Côi” (có bán ở tòa Tổng Giám Mục).

3 Đọc Phiên bản Dịch cuốn : “Si Tu cherches Dicu”, nếu Bạn chọn Thiên Chúa, của Jean-René Bonchét. Edition du Cerf.

3 Có thể lại Thư Viện các Dòng Tu mượn cuốn : “Tự Điển Đời Sống Thiêng Liêng” và tra cứu những điều thắc mắc.

  • Nên Nhớ Về Đời Sống Thiêng Liêng.

Đời sống Thiêng liêng là đời sống với Thiên Chúa – trong kinh nguyện và Bác Ái, nhuần nhuyễn tại chỗ thẳm sâu của con tim và hoạt động Tông Đồ. Muốn vậy, cần noi theo các linh đạo của các vị Thánh đã được chứng nghiệm qua thời gian.

THAY LỜI KẾT

Em !

Thế là Em đã được hướng dẫn “Tự Huấn” theo lối “con đường gần nhất không phải là đường thẳng”, đó là đặc tính tu-đức của người Á Đông, Đức Giêsu – Khi rao giảng Tin Mừng – toàn dùng các dụ ngôn các so sánh : “nước trời ví như...” vì Đức Giêsu là người Châu Á mà !

Điều quan trọng là : Hãy tự huấn từ từ trong thinh lặng và nguyện cầu, hãy đọc kỹ và suy niệm chương I này, rồi nội tâm hóa mỗi vấn đề, chất vấn lương tâm rồi kiểm tra lại bằng cách ghi rõ ràng vào “Sổ Tay Tự Huấn Cá Nhân”, sổ tay này phải được đọc đi đọc lại như một dụng cụ Thiên Chúa dùng để mặc khải những gì Chúa muốn nơi một “Dự Tu” cần thực hiện.

Làm nghiêm túc những gì gợi ý ở chương I này, Em sẽ có đủ kiến thức và ý chí để “Tự Huấn một cách khoa học và thiết thân với “đời” hơn, sẽ được trình bày ở chương II, có chủ đề : “Làm sao để Tự Huấn ?”

Câu hỏi ôn tập chương 1

1. Tự Huấn là gì ?

2. Tại sao lại Tự Huấn ?

3. Dự Tu là ai ? Tại sao lại dự tu ?

4. Trong lộ trình “Tôi đi tìm tôi”, mặt tích cực là gì ? Mặt tiêu cực là gì ?

5. Tại sao em lại có ý nghĩ “Dự tu” ?

6. Làm sao định giá được các nhu cầu cá nhân qua một “Dự tính Tự Huấn” ?

7. Thế nào là Tự Huấn qua “năm Trục-Bước” để tiến tới cái “Tôi-dự-định là” ?

8. Thử giải quyết vấn đề sau : (Dựa vào “năm Trục-Bước”) “Giuse, một học sinh lớp mười ở Miền Trung nghèo khổ về cả vật chất lẫn văn hóa. Tình cờ Em biết được Dòng Lasan, em tìm cách-với sự giúp đỡ của gia đình và một người thân quen – xin làm Dự Tu. Mục đích duy nhất là để được học Đại học, và tiếp cận với lối sống ở Sài Gòn. Sau một năm ăn học ở nhà Dự Tu, em thấy hối hận, cầu nguyện, rồi tìm hiểu ơn gọi Lasan, vì em thoáng thấy có ý định Dự tu”.

Vậy em phải làm gì ?

CHƯƠNG HAI

LÀM SAO ĐỂ TỰ HUẤN ?

Em,

Trong chương Một, ở lộ trình tu thân : “Mình gặp Mình, đã có câu đáp “tại sao lại Tự Huấn”, giờ đây ta cùng nhau lý giải : “Làm sao để tự huấn ?”, nói cách khác : “Làm sao để quản trị đời mình ?”

Quản trị đời mình là nhận ra được hình ảnh của chính con người mình, để có thể biến đổi cái “dự-định-là...” thành cái “định hướng là...”, như vậy sẽ phải luôn luôn và mãi mãi học hỏi, thay đổi và lớn lên. Em không còn là người trước kia em vẫn là, cũng không phải là người em sẽ là. Em thật sự cần biết rõ mình là ai, để chấp nhận và hài lòng về con người của mình, như nó đang hiện sinh bây giờ, và lúc này...

1. Tôi là ai ? Tôi là người Công giáo Việt Nam, đang tự huấn và muốn quản trị đời mình.

Tôi tiếp nhận máu huyết của ông bà cha mẹ, thừa hưởng di sản văn hóa, giá trị đạo đức ngàn đời của tổ tiên Việt Nam.

Là người Việt, tôi có Tổ Quốc, với Quốc Tổ Hùng Vương, với non sông gấm vóc, với lịch sử vẻ vang, hào hùng, tôi yêu tổ quốc Việt Nam và hãnh diện là người Việt Nam.

Tôi đã chịu phép rửa Chúa Thánh Thần, qua Giáo Hội, tôi có sự sống của Thiên Chúa, là cha chung của mọi người, nhờ ơn cứu chuộc của Đức Giêsu Kitô, vì thế lối sống của tôi trước hết phải sống theo Phúc Âm ; sống theo Phúc Âm phải giúp tôi trở thành người Việt Nam tốt, phải phục vụ những người bên cạnh tôi, góp phần xây dựng môi trường tôi đang sống :

  • “Sự khác biệt giữa sự sống Đạo ở nhà thờ và ngoài xã hội là gương xấu tai hại nhất trong thời đại chúng ta”. (Đ.H.V. trang 622).
  • “Đừng để thiên hạ xây dựng thế giới này mỗi ngày mà con không biết, không khám phá, không thao thức, không nhúng tay vào. Chúa đã cứu chuộc con và đặt con vào thế gian này, trong thế kỷ này, thập niên này, môi trường này. Đặt con chứ không phải cục đá ! (Đ.H.V. Trang 621).

2. Cái tôi, nhân cách và tính tình :

A. “Cái tôi” là quan niệm một người có về mình. Thí dụ “Tôi là một dự tu”. “Cái tôi là chính bản ngã, là chính con người. Nó là tổng hợp của lý tính, ý chí, cảm tính, hành vi của một người và làm cho người này là một cá nhân khác biệt với các cá nhân khác.

“Cái tôi” – là bản ngã, làm chủ thể các sinh hoạt tâm lý như : Tôi tốt, tôi xấu, tôi học, tôi ăn. Khi cái tôi là chủ thể thì nó là bản ngã siêu hình, có nghĩa chỉ biết được cách gián tiếp do kết luận, chứ không trực tiếp biết được do kinh nghiệm như bản ngã đối tượng.

a.1- Theo Dellshauvers, một người có thể có nhiều bản ngã, tùy hoàn cảnh. Thí dụ vị chánh án khi xét xử phạm nhân thì có bộ mặt trang nghiêm, có khi phẫn nộ nghiêm khắc, nhưng sau đó ở nhà trong khung cảnh gia đình đầm ấm, khuôn mặt ông giờ đây lại dịu dàng ôn tồn, âu yếm.

Trong nhiều trường hợp, chính những trạng thái giận dữ, vui tươi khiến ta ăn nói, hành động như ta không phải là ta nữa.

a.2- Hiện tượng “đa ngã” là một hiện tượng bệnh lý : mơ mộng hay bệnh hoạn có thể làm cho người ta tưởng mình có hai hay nhiều bản ngã. Các y sĩ thần kinh có thể cho ta nhiều ví dụ điển hình đáng kinh ngạc. Khi còn nhỏ, em bé không phân biệt “bản ngã” với “phi ngã”, nó chỉ phân biệt được điều này khi óc đã phát triển khoảng một tuổi. Còn bản ngã tâm linh thì phải qua thời ấu trĩ mới ý thức được lần lần. Chính trị, xã hội ảnh hưởng nhiều trên quan niệm mà ta có về bản ngã của ta, khi so sánh ta với kẻ khác. Thí dụ : một bộ đội thấy mình can đảm ở chiến trường hơn, nhờ cấp trên khen là can đảm. Giới trẻ thường không sống với chân giá trị của mình, mà sống bằng dư luận. Nhiều người khi bị khinh chê thì buồn phiền, mất ăn mất ngủ. Có ba yếu tố cấu thành bản ngã : vật chất, tâm lý, xã hội.

Vật chất : vì trước hết, ta biết được “cái tôi” nhờ thân thể. Ta thấy thân xác, tướng diện, màu da, tầm kích của ta khác với kẻ khác.

Tâm lý : vì khi còn bé sống gần như thú vật, không ý thức. Yếu tố tâm lý cấu thành bản ngã của người trẻ là bản ngã trong hy vọng. Họ sống với mộng đẹp tương lai. Khi lớn tuổi, bản ngã được đặt vào dĩ vãng. Người già hay nói về quá khứ và hãnh diện về quá khứ của mình.

Xã hội : vì từ bé, con người đã sống bên mẹ cha, anh, chị, em, bè bạn. Khi một người thân qua đời, ai cũng thấy buồn rầu mất mát. Xã hội còn ảnh hưởng đến lối ăn lối làm lối suy nghĩ. Xã hội có thể làm cho ta tốt hơn, xấu hơn, giả dối hơn.

B. Nhân cách : là tính chất của một cá nhân ý thức về mình, làm chủ các hành vi của mình. Nhân cách khác với cá vị và nhân vị.

b.1- Cá vị (individu) tự bản chất không thể phân chia được. Thí dụ một cục sỏi khi tách ra làm hai không còn là một cá vị. Như thế, cá vị là một hữu thể khác với các hữu thể khác.

b.2- Nhân vị (person) có gốc Latin Prouna = mặt nạ) nghĩa xưa là mặt nạ dùng trên sân khấu, chỉ một vai trò của diễn viên, nghĩa bây giờ là hữu thể gồm xác và hồn.

b.3- Nhân cách : là tính cách của nhân vị. Vì nhân vị là cá nhân ý thức về các hành vi của mình, và chịu trách nhiệm về đời mình nên nhân cách là sự ý thức cao độ về các vấn đề ấy. Ai cũng có nhân vị nhưng chỉ những ai tự huấn nhân vị mới có nhân cách.

C. Tính tình : theo René Le Senne trong “Traité de Caratérologic” thì tính tình là “toàn thể những bẩm sinh tạo thành bộ xương tâm thần của một người”. Định nghĩa này gồm ba yếu tố.

c.1- Tính tình là những tổng hợp di truyền trong một cá nhân.

c.2- Tính tình vững chắc và thường xuyên trong một cá nhân.

c.3- Tính tình là một cơ cấu tâm linh làm nòng cốt cho sinh hoạt tâm lý.

Theo Paul Foulquité : Tính tình là tổng hợp toàn thể đời sống tâm linh, ý thức hay vô thức của một người. Vì “bá nhân bá tánh”, nên tính tình còn được gọi là cá tính tâm lý.

D. Tính khí : (tempérament) là tổng hợp những xu hướng tâm lý của một người, khác với tính tình là tổng hợp những bẩm sinh tâm lý dựa trên tính khí, thay đổi bởi giáo dục và cố gắng luyện tập. Nhiều thánh nhân trước khi thành một hiền nhân, đã từng là người nóng, cộc, hung dữ như Thánh Paul, Ignace de Loyola. Tính tình tự nhiên tốt là quí, nhưng tính tình trở nên tốt nhờ tự huấn mỗi ngày còn quí hơn.

3. Làm sao hiểu mình hiểu người ?

Bằng cách nào phân loại tâm tính, tìm ra yếu tố nào chi phối, yếu tố nào lệ thuộc. Hiểu mình để tu thân, hiểu người để sống chung và xã giao. Có nhiều tiêu thức để phân loại tính tình.

3.1- Lối Gallien : cho là sức khỏe và tâm lý người ta có liên quan đến ngũ hành : Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ trong thiên nhiên. Ông chia tính tình con người theo bốn thể dịch là : Lâm ba (Lymple), Máu huyết, Mật, và thần kinh.

1. Loại thản (flegmatique)

2. Loại đa huyết (Sanguin)

3. Loại đảm (Bilieux)

4. Loại thần kinh (Nerveux)

3.2. Lối Hippocrate : Ông này cũng dựa vào thuyết thể dịch nhưng chia tính tình ra năm loại :

1. Đa huyết

2. Thản

3. Đảm

4. U uất (atrabiliaire)

5. Thần kinh

3.3- Lối Halle : Bác sĩ Halle dựa vào sinh lý học, cũng chia tính tình ra ba loại :

1. Mạch huyết (Vasculaire)

2. Thần kinh (Nerveux)

3. Cơ bắp (Musculaire)

Rồi dựa vào diện mạo bên ngoài, Halle chia tâm tính ra ba loại :

1. Thuộc về đầu (Céphalique)

2. Thuộc về ngực (Thoracique)

3. Thuộc về bụng (Abdominal)

3.4- Lối Leon Bondel : Nhà tâm lý này coi tính tình có bốn loại :

1. Điều hòa (Harmonique)

2. Hạp điệu (Mélancolique)

3. Tiết tấu (Rythmique)

4. Hỗn hợp (Mélangé)

3.5- Lối Philippe Giradet : Theo tác giả cuốn “Connais sance des Hommes” tính tình con người có tám hạng sau :

1. Tham lam và không vụ lợi

2. Hiền và dữ

3. Thích giao thiệp và chán đời

4. Ham hoạt động và bạc nhược

5. Can đảm và lãnh đạm

6. Tính tình hỗn hợp

7. Tính tình phức tạp

8. Mỉa mai và trào phúng

3.6- Lối Garin : Nhà tính tình học Thụy Sĩ chia tính tình ra năm loại :

1. Tiêu hóa

2. Hoạt động

3. Đa cảm

4. Điều hòa

5. Không điều hòa

3.7- Lối Ribot : Ông đề cao vai trò của cảm tính trong hoạt động tâm lý và chia tính tình ra năm loại :

1. Đa cảm gồm : khiêm tốn, thiếu nghị lực và thông minh.

2. Chiêm ngưỡng : thông minh nhưng thiếu nghị lực.

3. Đa cảm xúc : thông minh và nghị lực

4. Hoạt động : hoạt động tầm thường và hoạt động tầm vĩ đại

5. Vô cảm : vô cảm thuần túy và vô cảm tính toán.

3.8. Lối Claude Sigaud : Gồm 4 loại :

1. Tiêu hóa

2. Hô hấp

3. Cơ bắp

4. Đầu óc

3.9- Lối Bain và Fouillée : trước là Bain, sau Fouillée chia tính tình ra ba loại :

1. Tri thức : gồm trí thức thuần túy, đam mê và cương quyết, duy lý thực tiễn.

2. Cảm tình : gồm trí thức hoạt động, cương quyết, thuần cảm tính, nhục cảm, duy lý.

3. Họat động cương quyết : cương quyết suy nghĩ, cương quyết đam mê, cương quyết cứng đầu.

3.10- Lối Malapert : ba nhóm tính tình

1. Xét về mặt tình cảm : vô cảm (lãnh đạm, cương nghị), đa cảm, đam mê.

2. Xét về mặt tài năng tinh thần : thuần suy lý, trí thức đam mê, tự chủ, chỉ huy.

3. Xét về mặt xã giao : nhát gan, dè dặt, ưa hoạt động.

3.11. Lối Heymans : nhà tâm lý Hòa Lan phân biệt ba yếu tố căn bản nơi con người :

1. Loại cảm tính (Emotivité)

2. Loại hoạt năng (Activité)

3. Phản ứng (Réaction) : trực phản (primarité) và gián phản (secondarité) ; rồi dựa vào ba yếu tố này Heymans chia ra tám loại tính tình :

1. Nhu nhược (Amorphe) : Trực phản, Thiếu cảm xúc và Hoạt Động.

2. Vô cảm (Apatique) : Thiếu cảm xúc, thiếu Hoạt Động, Gián phản.

3. Đa Huyết (Sanguin) : Thiếu cảm xúc, Hiếu Động, Trực phản.

4. Lâm ba (Symphatique) : Thiếu cảm xúc, Hiếu động, Gián phản.

5. Thần kinh (Nerneux) : Cảm xúc, Thiếu hoạt động, Trực phản.

6. Tình cảm (Sentimental) : Cảm xúc, Thiếu Hoạt động, Gián phản.

7. Hăng nóng (Cholérique) : Cảm xúc, Hiếu động, Trực phản.

8. Hùng khí (Cholérique) : Cảm xúc, Hiếu động, Gián phản.

Lối chia của Heymans được các nhà tâm lý và tính tình học coi là hợp lý nhất, như : René Le Senne, Klages, J.de la Vaissière, Mounière, Mesnard... Vì phân chia như trên sẽ kéo theo các phương pháp tâm lý giáo dục và biến cải được tính tình. Feurzinger đã nói : “Muốn tự huấn tính tình cần phải nghiên cứu tính tình theo các nguyên tắc và phương pháp khoa học”.

4. Khoa tính tình và Tự Huấn tính tình.

4.1- Các yếu tố tạo thành tính tình : cảm tính, hoạt tính, phản ứng.

1. Cảm tính : là nền tảng của các thứ tính dục tốt, xấu. Cảm tính cần tự huấn thì tâm tính mới thuần.

2. Hoạt tính : là động cơ của bản năng và ý chí trong hoạt động. Hoạt tính cần tự huấn bằng lý trí nếu không mọi hoạt động sẽ mù quáng và gây tác hại.

3. Phản ứng : là phản ứng nhanh (trực phản) hay chậm (gián phản) của một người trước một sự việc tâm lý.

Dựa vào ba yếu tố cơ bản trên các nhà tâm lý tính tình chia ra tám loại tính tình :

Loại 1 : Nhu nhược : VBT : Vô cảm, Bất động, Trực phản. (nEnAP)

Loại 2 : Vô cảm : VBG : Vô cảm, Bất động, Gián phản. (nEnAS)

Loại 3 : Đa huyết : VHT : Vô cảm, Hiếu động, Trực phản. (nEAP)

Loại 4 : Lâm Ba : VHG : Vô cảm, Hiếu động, Gián phản. (nEAS)

Loại 5 : Thần kinh : CBT : Cảm xúc, Bất động, Trực phản. (EnAP)

Loại 6 : Tình cảm : CBG : Cảm xúc, Bất động, Gián phản. (EnAS)

Loại 7 : Hăng nóng : CHT : Cảm xúc, Hiếu động, Trực phản. (EAP)

Loại 8 : Hùng khí : CHG : Cảm xúc, Hiếu động, Gián phản. (EAS)

Ngoài ra, vì không có loại tính tình nào là tuyệt đối thuần túy, nên người ta còn phân biệt tính tình hạng loại (Caractère sériel), dựa vào các tố chất đồng nhất để tạo ra các hạng loại đồng nhất và tính tình cá vị (Caractère individue), dựa vào những tài liệu về tiểu sử, rồi phân tích, giải thích tính tình của cá nhân ấy).

(Thí dụ : “10 Khuyết điểm của Chúa Giêsu”, bài phân tích của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận)

4.2- Phương pháp nghiên cứu tính tình :

a. Phương pháp tâm lý hình thái học : dựa vào các nhận xét thống kê, người ta kết luận có sự tương thích giữa hình thái bề ngoài và đặc tính tâm lý con người.

Các tác giả tiêu biểu : Boven : “La science du Caractère” ; Jacquin Chatelier : “Claude Sigand et la Morphologie humaine” ; Jean des Vignes Rouges : “Les Révélations du visage”.

b. Phương pháp tâm lý kỹ thuật : dùng các trắc nghiệm để tìm hiểu khả năng, sở thích của con người, để hướng nghiệp tuổi trẻ.

c. Phương pháp chiết tự : giống như khoa “bút tướng” của Trung Hoa, Chữ viết của ai là kiếng soi một phần tâm tính của kẻ đó. Mỗi nét chữ đều tỏ lộ một khía cạnh của tâm tính.

d. Phương pháp điệu bộ : các điệu bộ bề ngoài như nhăn mặt, nheo mắt, trề môi, hất cằm, múa tay... các điệu bộ này biểu lộ tâm tính người đang nói.

Các tác giả tiêu biểu : Cuyer : “La Mimique” ; Karl Jaspers : “Psychologie Générale”.

e. Phương pháp đàm thoại : Lời nói diễn tả trạng thái tâm hồn. Thánh Kinh cũng nói : “lòng tràn đầy, miệng mới nói ra”. Làm việc này, cần phải chân thành, tế nhị và có nghệ thuật lắng nghe mới phát hiện được tính tình kẻ đối thoại.

f. Phương pháp tâm lý cử động (Behaviorism) : không dựa vào suy luận mà vào quan sát các cử động, tập quán, và cách cư xử.

Tư tưởng, cảm xúc... đều là kết quả của sinh lý.

Để tìm hiểu tâm tính kẻ khác người ta :

1. Khảo sát tiểu sử, nếp sống riêng, nghề nghiệp rồi nghiên cứu các tập quán của họ.

2. Ghi chú các phản ứng tự nhiên, tập quán kỳ lạ, để tìm nguyên nhân phát sinh ra tâm lý đó qua các tập quán của họ.

3. Hệ thống hóa các nhận xét trên để tìm hiểu cơ cấu tâm lý qua các phản ứng.

g. Phương pháp nghiên cứu hành động :

Thông thường con người ít khi ý thức các cử chỉ, lời nói hành vi của mình khi hoạt động do đó chính các hành vi vô thức này biểu lộ tâm tính đương sự. Để hiểu tâm tính họ, cần coi tại sao họ làm như vậy : theo tôn giáo này, đường lối xã hội kia, chưng dọn phòng ốc như vậy, phê phán bạn bè thế này, thích giao du với loại người này nọ...

h. Phương pháp nghiên cứu nghề nghiệp :

Phần đông khi chọn nghề người ta đều chọn nghề hợp khả năng, nếu không trước sau cũng bỏ đi tìm nghề khác. Tuy nhiên không thiếu gì những kẻ con ông cháu cha chẳng ra gì, lại lãnh các việc quan trọng trong xã hội. Loại người này càng dễ nhận ra hơn.

i. Phương pháp trực giác :

Là nhận thức con người, ngoại giới trực tiếp, không qua một trung gian nào, hoặc lý luận nào ; “tự nhiên thấy biết” có thể là trực giác lẹ, chưa phải là phán đoán đúng, nếu bộ não chưa trưởng thành, thí dụ :

1. Theo André Vidtal : lúc đầu khi trực giác về một người, ta có một lược đồ tổng quát, rồi từ từ ta thu hẹp lược đồ đó lại. Trong khi đó đối tượng là chính con người ấy gợi lên trong ta các cảm tưởng về họ, ta nói : “người này hiền, người kia xảo trá, người nọ thật thà”, và các người này quả thật hành động đúng như vậy.

2. Theo Campenalla : trực giác là bắt chước đối tượng được quan sát. Thí dụ bắt chước ai đó nhún vai, trề môi, hỉnh mũi, rung đùi... và khi làm như thế trong tâm tư người bắt chước có phản ứng và có trực giác về người đó.

Tóm lại, cần phân tích rồi tổng hợp các nhận xét, tùy theo mỗi phương pháp để tìm hiểu tính tình của mình với mục đích đầu tiên là tự huấn. Socrate đã nói : “Hãy tự biết mình đi !” là kim chỉ nam cho việc tự huấn cá tính mình, không những theo phương pháp của cá tính học, mà còn phải nội tâm hóa các kiến thức trên để thành thực nhận ra bộ mặt thật của mình. Điều này rất khó vì óc chủ quan, vì tự ái, làm cho các người trẻ nhận định mình toàn là tính tốt, không có xấu, một cách vô thức ! Thường, nếu không chân thành, ta sẽ nhận diện mình phải thế này thế nọ như ta mơ ước, chứ không khách quan nhận định ta là thế này, là thế kia. Hơn nữa, tâm tính con người rất phức tạp, tuy có các “mẫu số chung”, song vì ảnh hưởng của hoàn cảnh, xã hội, tính tình có thể bị thay đổi. Thí dụ một nhà sư thường thích nơi tịch mịch, một sư huynh thường thích cảnh sinh hoạt giáo dục, nhưng đừng tưởng tín đồ hay học sinh của mình cũng thích như mình !

Cuối cùng, phải khách quan, tri kỷ và không quên cầu nguyện trời đất, rồi trở về nguồn gốc bản lãnh Việt Nam để tìm ra những phương pháp tự huấn cho mình thành người có tính tình “dễ ưa” hơn và tuyệt đối phải hiểu : Tại sao tôi cần hiểu tôi, cần biết rõ anh em chung sống với tôi, tôi là ai, anh là ai, chúng ta là ai, chúng ta đang làm công việc tự huấn nhưng để rồi làm gì ? Nếu không, chúng ta sẽ lãnh đủ các căn bệnh của tính tình ? Terstone đã nói : “Nguyên nhân chính của mọi tâm bệnh là trí tuệ kém năng lực tổng hợp, và ý chí kém năng lực tự quyết”.

5. Các bệnh của tính tình

Gọi là “bệnh” của tính tình, khi một người có tình trạng tâm lý bất bình thường.

5.1- Bệnh “qui nội” (Schizoide) : ghét sinh hoạt xã hội, thích quay về cái tôi của mình. Họ cực đoan trong tình cảm ; hoặc yêu một cách lý tưởng, siêu phàm, hoặc trụy lạc bất kể luân lý. Tướng diện gầy còm, khô đét. Lúc nào cũng tìm cách xa lánh đụng chạm, ngơ ngác, sợ sệt. Có khi lại hung ác, tàn nhẫn, người nội qui hay mơ mộng ; ước mong những công trình văn hóa nghệ thuật, nếu ít học họ thích làm giàu, càng lớn họ càng thích thinh lặng, thiên nhiên, ưa đọc sách và ghét đời sống cộng đoàn.

5.2- Bệnh “qui ngoại” (cycloide) : người mập, thịt mềm, tướng đi nặng nề, phục phịch, gương mặt hiền, mắt nhỏ. Thích sống với xã hội, dễ giao thiệp với đủ hạng người. Khi vui như tết, khi buồn như đám tang, có thể thành công giữa xã hội, thích cởi mở, dễ tin, rất phong phú về tình dục, quá thực tế, thích xa hoa, phóng túng, thích bố thí, thích hiện tại, không thích chống đối cấp trên.

5.3- Bệnh “cuồng trí” (Hystérique) : ý thức trường của người mắc bệnh bị thu hẹp nên mất năng lực tổng hợp, khó phán đoán, ý chí hầu như tê liệt, khi bị kích thích phản ứng chậm chạp, chấp nhận các ý tưởng ngoại lai dễ dàng, sinh ra bắt chước mù quáng. Tính tình người bệnh ngã về hành động và phát triển hành động bền bỉ, có tính tự kỷ ám thị. Có khi nói huyên thuyên, ca hát om xòm, hay nói tục tĩu, thích nói dối. Vừa có ý là làm liền, ý tưởng vội đến vội đi quá lẹ, ý chí không kịp can thiệp, các ý tưởng hành vi đuổi bắt, giành giật nhau và phát triển.

5.3. Bệnh “tê bại” (Cataleptique) : Người mắc chứng này, giống như một pho tượng máy cử động, là một giai đoạn của bệnh cuồng trí, là chứng ám thị phát sinh bởi cảm xúc quá mạnh luôn nằm trong trí nhớ người bệnh. Về sinh lý, họ vẫn bình thường : tim đập đều, phổi thở tốt, ngũ quan vẫn tinh nhuệ, chỉ riêng tinh thần trục trặc. Ví dụ khi ta hỏi : “mạnh chứ ?” họ cảm xúc và miệng nói lại như máy : “mạnh chứ” ? Họ bị kích thích, sinh cảm giác và hành vi xảy ra, không hề kiểm tra qua ý thức, vì ý thức trường của họ bị thu nhỏ lại.

5.4. Bệnh “thác loạn thần kinh” (Nevrosique) : Là khi tâm bệnh bị suy nhược, ý thức trường (champ de conscience) vẫn tiếp nhận nhiều hiện tượng tâm linh, nhưng trí tuệ không tổng hợp nổi, nên có ý tưởng lộn xộn, hỗn loạn khi chuyển thành hành vi.

Thí dụ : một người bệnh đọc câu chuyện trên báo, có người tài xế cán chết người, cứ bị ám ảnh là mình cán chết con mình, và gớm tởm hành vi cố sát. Vài thí dụ.

  • Pierre Janet kể trong “Obssessions et la psychathénie” : một thanh niên hớt tóc tưởng mình cắt cổ khách, ghê tởm hành vi này, liền bỏ nghề.
  • E.de Feuchtresleben kể trong “Hygiène de l’âme” : một sinh viên y khoa bỏ nghề y vì ghê tởm các thứ bệnh mà thầy giáo giảng.

Tâm tính người thần kinh thác loạn bị ám ảnh mạnh, trong khi các ý tưởng của họ lại yếu không tự chủ được, họ hành động như cái máy.

5.5. Bệnh “Ám ảnh” (Obsédé) : Lúc nào trong óc cũng cho là mình làm gì cũng không được, cảm thấy buồn nản, uể oải không ham muốn hoạt động. Họ thường nói : “Tôi không biết gì hết, tôi không làm được gì hết”. Họ cho mình không thể phán đoán, suy luận. Họ thấy đầu óc trống rỗng, lưỡng lự, không thể tự quyết. Ý chí suy nhược, nên ý tưởng không thể tổng hợp lại nhảy vọt ra hành động, nên luôn thấy mình bất lực, và đau khổ vì không yên tâm quyết định, tâm tính không bao giờ dứt khoát !

5.6. Bệnh “bối rối” (Scrupuleux) : Scrupule có gốc latin là Scrupulus, mang nghĩa cục sỏi nhỏ, lúc đầu có ý nghĩa là quả cân nhỏ nhất trong loại cân nhạy nhất. Theo nghĩa luân lý thì Scrupuleux chỉ lý lẽ tỉ mỉ nhất mà chỉ những lương tâm tế nhị nhất mới lưu ý đến. Vậy Scrupuleux là kẻ mắc bệnh tinh thần mà theo đó bệnh nhân luôn sợ phạm lỗi đối với trời, với người vì những lý do không đâu.

  • Người “bối rối” quá âu lo sợ hãi vì sợ làm phật lòng người khác, sợ đến nỗi hóa thành kỳ dị trong hành động và lời nói. Họ sợ nhất là phạm tội, họ co rút cái tôi của mình, luôn buồn rầu, xét nét, phán đoán mù quáng, óc bi quan, yếm thế mất tin tưởng vào tương lai, khó sống tập thể được.

5.7. Bệnh “tưởng tượng” (maladie imaginaire) : là kẻ không đau ốm gì mà cứ tưởng mình đang bệnh nặng, như nhân vật Argan của Molière trong vở “Người bệnh tưởng”. Cứ hoang tưởng là bệnh rồi sau cùng mắc bệnh thật. Trong cuốn “Névroses et idées Fixes” Pierre Janet kể : có những người cứ tưởng mình điên, đau phổi, cận thị... rồi sau cùng đều mắc các bệnh đó thật. Nguyên nhân chính của bệnh tưởng là ý tưởng cố định, xâm chiếm đầu óc, loại trừ các ý khác của người bệnh. Người bệnh tưởng hay cố chấp, thiên vị, hẹp hòi, trốn trách nhiệm, vụng về trong giao tiếp.

Tóm lại, cả bảy chứng “bệnh” tâm lý vừa kể trên, đều cần phải tự huấn từ đầu bằng các phương tiện tích cực cho mỗi thứ “bệnh”. Muốn vậy, phải nắm rõ mỗi cá nhân (8 loại) có thể có các khuynh hướng bệnh gì, và phải tự huấn ra sao ?

6. Tám cá tính, tám cách Tự Huấn

6.1- Bản Tính người nhu nhược : V.B.T

Loại này không cảm xúc, không ưa hoạt động và phản ứng nhanh, như vậy là chỉ biết chịu ảnh hưởng kẻ khác, khó sống trong cộng đoàn, chỉ lo bảo vệ những gì thuộc về mình, ích kỷ, thiên về nhục dục hơn tình cảm, lãnh đạm với kẻ khác, làm biếng, bực bội với các việc được trao. Thông minh nhưng lười biếng, nếu không được giúp đỡ sẽ bị thất bại trong cuộc sống xã hội. Chỉ biết lợi trước mắt, không thích sinh hoạt xã hội, tông đồ. Lừ đừ và không quyết đoán. Thích hưởng thụ, tiêu xài, ăn ké. Dục tính mạnh và bất thường nhưng hời hợt kiểu lửa rơm, bề ngoài ít nói nên ta lầm họ là khoan dung trước lỗi lầm của kẻ khác. Đôi khi có dự tính to lớn nhưng ngại thực hiện. Có trí tuệ nhưng không sử dụng, ưa thay đổi vì chỉ nhìn thấy tầm gần, lạnh nhạt với công tác tôn giáo, xã hội, trong cộng đoàn không thích giúp ai, không quan tâm đến việc chung. Có tài về âm nhạc, kịch vì ham danh lợi, ít ham đọc sách, láo xược vì lợi, mưu sĩ và giả hình, có thể oán ghét gia đình, xã hội, cộng đoàn.

Các nhà tâm lý như Carton và Hartenberg, nói tính tình người nhu nhược giống người “Lâm Ba”, “Đa huyết” và “Thần kinh”.

6.2- Tự Huấn tính nhu nhược :

    • Tập mình hoạt động, bắt đầu bằng công việc mình thích, kết bạn với người ưa sinh hoạt, dùng âm nhạc, kịch nghệ là cái mình thích để sinh hoạt. Cố gắng chọn một môn thể thao như bóng đá, bóng bàn,... không được đánh cờ...
    • Mỗi sáng, mỗi tối năm phút tập thể dục, lập kế hoạch hành động cho cả năm, tháng, ngày, tuyệt đối tuân theo thời khóa biểu của Cộng đoàn. Không bao giờ ở không, nên trồng bông, trang trí, nuôi chim, cá, sắp xếp lại phòng ốc.
    • Lấy quyết định chia sẻ Phúc Âm, chia sẻ kiến thức, trao đổi với người phụ trách, cố ăn uống đúng giờ, ăn chung với anh em, không ăn riêng, chơi riêng.
    • Tập tiết kiệm, hoàn thành công tác được trao, làm báo cáo đúng hạn, xét tập mình mỗi tối trước khi ngủ : luật Lasan “Cùng chung và liên kết” là liều thuốc tốt nhất cho người loại V.B.T.
    • Cố gắng không học cours đêm, không tiếp xúc nhiều với người khác phái một mình, cẩn trọng về sách đọc, phim ảnh, chỉ coi ti vi chung, không coi một mình.
    • Tập tính thực tế trong công việc, bỏ các chương trình quá lớn không thực tế.
    • Lưu tâm nhiều đến đời sống đoàn thể, cần bắt chuyện với người bên cạnh, cố mỉm cười khi nói, tỏ ra rộng rãi về đóng góp và sòng phẳng về tiền bạc.

6.3- Bản tính người Vô cảm : VBG

Loại này ít cảm xúc, ít hoạt động, phản ứng chậm. Tự nhiên hướng về tư lự, buồn rầu không đâu. Khép kín, ít cười, ít nói, lầm lầm lì lì. Bề ngoài có vẻ trầm tĩnh nhưng thật ra chẳng có suy tư gì cả, kinh nghiệm sống nghèo nàn, lý luận tào lao. Khó hòa mình với tập thể, vẻ mặt ưa quạu quọ, bảo thủ, ý thích cá nhân, cố chấp cứng đầu, ngoan cố vì ý tưởng cố định trong đầu. Tính ù lì, lỗi thời, nguyên tắc quá lố thành lạc hậu. Tính bủn xỉn tiền bạc gần như hà tiện. Không chịu nhận khuyết điểm, làm cho các khả năng của họ giảm sút và bản năng xấu bộc phát, thành đa dâm, say xỉn, mê ăn uống,... Càng lớn càng lo thủ thế, tích lũy tiền của, ích kỷ, thiếu sáng suốt, vụng về, chậm chạp. Tuy nhiên họ giữ bí mật những gì cần giữ, không giễu cợt anh em, nhưng lại thích sống một mình, ghét cùng chung hoạt động, dửng dưng trước đau khổ của kẻ khác, ghét thú vật, Jean Vignes Rouges mô tả họ là : “một cá nhân mềm yếu, tẻ nhạt, bất động, lừ đừ, hờ hững”. Hễ nói là nói những lời lãng nhách, nói xong họ ngồi như câm, ích kỷ và vô duyên !

6.4- Tự Huấn tính “Vô cảm”

Người vô cảm VBG có năm khuyết điểm cần ý thức tự huấn :

    • Hay buồn rầu, nên tránh các sách báo gây bi quan, tập nhìn đời với con mắt lạc quan, không để các tư tưởng yếm thế trong tâm hồn, cố gắng quan hệ tốt với bạn bè, mỉm cười với bất cứ ai mình giao tiếp.
    • Hời hợt, nông cạn, cố gắng tập phát biểu rõ ràng, lập luận đúng lý. Tập đọc những sách đạo đức, tìm học các học thuyết xã hội, chính trị, tôn giáo, khoa học để tránh phiêu lưu mơ mộng viễn vông.
    • Bảo thủ và lạc hậu, đọc sách báo, coi ti vi, đi đó đi đây, tiếp xúc nhiều để quan sát, tìm cách mở rộng nhãn quan để chấp nhận cái mới, bỏ cái cũ, cái lỗi thời.
    • Ít nói, lầm lì ra vẻ huyền bí là một tật xấu nơi người VBG. Tập luyện cởi mở với anh em, hay trao đổi những suy tính của mình với người phụ trách. Tham gia trò chuyện với anh em, cố gắng pha trò giỡn chơi trong bữa ăn.
    • Tính hà tiện bủn xỉn, cố gắng chế ngự tính ích kỷ, luôn nghĩ về mình, cứng đầu và chỉ cho mình là đúng, đôi khi ngoan cố bảo thủ ý kiến sai lầm, cố tập tánh đức vâng lời với con mắt đức tin. Nếu không cố gắng tự huấn, bản năng thiên về ăn uống, tình dục sẽ kéo loại tính tình này chỉ biết sống theo bản năng sinh tồn, trong việc tìm các lạc thú thấp hèn.

6.5- Bản tính người “Đa huyết” :

Phần đông người Đa huyết thiếu tính trừu tượng, thích thương mại, kinh doanh, thực dụng hơn công việc tinh thần. Thường mập, lớn bề ngang, da hồng hào. Cổ ngắn mà to, mặt tròn, lông mày rậm, mắt trong, mũi to, môi dầy, tay chân ngắn : điệu bộ gọn, thích quần áo lòe loẹt, tiếng nói sang sảng. Tính tình cởi mở, ưa hoạt động, ứng biến giỏi, biết quan sát, học mau mà quên mau, ưa thay đổi, nhẹ dạ, thích xã giao, thích bông đùa, náo động, ưa món ngon, nhậu nhẹt, thích du lịch, nói nhiều hơn làm, có tính khoan dung, vị tha. Thích mượn tiền nhưng khó trả nợ ! Ưa công việc ngày mai, thích mới nới cũ, yếu đuối về xác thịt, ham danh lợi, ích kỷ, mau giận mau nguôi, dễ dàng bỏ cuộc. Không thích sưu tầm nghiên cứu, thích thể thao, có khiếu hội họa, không thích kỷ luật, nghiêng về sinh lý. Khi viết, chữ hoa to tướng, chữ không đều, nét chữ kéo dài, chữ ký như quảng cáo.

6.6. Tự Huấn tính Đa huyết :

    • Vì nông nổi nên khi nói đừng quên suy nghĩ trước, đã hứa gì thì cố gắng giữ lời, ráng ăn ở có hậu, đừng hành động theo lối ăn xổi ở thì. Cần chế ngự bản năng bằng ý chí, hãy điềm đạm khi nói, khi làm.
    • Cố gắng luyện theo trật tự giá trị sau :

“Giá trị kinh tế phải lệ thuộc giá trị sinh lý, giá trị sinh lý lệ thuộc giá trị tinh thần, giá trị tinh thần lệ thuộc giá trị tâm đức, giá trị tâm đức lệ thuộc giá trị siêu nhiên”.

    • Cố kềm hãm tính háo danh, vì giá trị con người là ở thực tại, thực đức. Không nên lệ thuộc lời khen chê của kẻ khác.
    • Để chống lại tính ích kỷ và chỉ trích kẻ khác, hãy tự đặt địa vị mình vào địa vị kẻ khác để đánh giá các hành vi, lời nói, cố mang tinh thần bác ái và gương các hiền nhân vào lối phản ứng của mình.

6.7. Bản tính người Lâm Ba : VHG

Loại này vô cảm xúc, hoạt động và phản ứng chậm, cơ thể to lớn, bụng bự, mũi to, cổ ngắn, mắt lộ, toàn thân phục phịch. Có óc thực dụng, nhưng lại trầm tĩnh trước nguy hiểm, chịu đựng và lãnh đạm, ghét náo động. Sống lý trí nhiều hơn tình cảm, biết tuân phục, thích luật pháp. Ăn uống và tình dục không thái quá, thích bảo thủ. Phán đoán nhằm những gì chính, không thích chi tiết. Có trí nhớ tốt, nhiều óc quan sát, thích đọc sách, nhận xét khách quan các vấn đề xã hội, thật thà, chừng mực.

6.8. Tự Huấn tính Lâm Ba :

    • Cần phát huy các đức tính có sẵn như : điềm đạm, can đảm, nhẫn nại, tiết độ, đơn sơ, không vụ lợi.
    • Nên đề phòng các tính lãnh đạm, thờ ơ đến chuyện chung : sống giữa anh em phải hòa nhập, không nên tỏ vẻ bí mật, thủ cựu.
    • Phấn đấu thoát ra khỏi sức ù lì, các khuôn phép xưa, làm mất sáng kiến trong cuộc sống chung.

6.9. Bản tính người “Thần kinh” CBT :

Loại người này nhiều cảm xúc, ít hoạt động, phản xạ trực tiếp nhanh, cơ thể gầy ốm, đầu lớn mé sau, cổ cao, mặt hình tam giác, trán hơi nhăn, mũi dài, da tai tái, cằm nhọn, mắt lồi và sáng, môi khít, tứ chi dài, toàn thân khô đét. Tình cảm thay đổi, nhiều tự ái, mau mất bình tĩnh, xúc động dễ dàng. Có những trù tính to lớn, nhưng dễ bỏ cuộc. Hoang phí tình cảm cho các công việc sâu đậm, sài tiền hoang phí, thích thay đổi chỗ ở, nghề nghiệp, tình yêu, tình bạn. Lúc nhỏ thích thoát ly đi chơi. Hay nói láo, chân tay múa máy khi nói ưa thêu dệt chuyện và bi quan hóa câu chuyện, ham danh, chỉ trích phô trương cái tôi, nhát gan nhưng lại thích gây rối, kiêu căng, sợ bị chê bai, ưa phân bì, mê dâm, mau quên dĩ vãng, ích kỷ và tham lam, ưa nịnh hót.

6.10. Tự Huấn tính “Thần kinh” :

    • Người “Thần kinh” có thể trở nên rất tốt và cũng có thể trở thành cực xấu, do đó vấn đề tự huấn là tối quan trọng đối với họ.
    • Vì ưa sống theo bản năng, nên cần tự huấn về ý chí, vì có phản ứng mau lẹ, lại giàu tình cảm, dễ rung động nhưng lại ít hoạt động, chỉ thích cái lạ mắt, gây ấn tượng. Tự huấn mình là cố gắng ý thức các bản năng trên và cố kiềm hãm bớt tính bản năng đi, bù vào đó là suy nghĩ và ý chí cao.
    • Khi quyết định làm việc gì, làm chầm chậm, suy đi nghĩ lại. Trong lời nói, phải suy nghĩ trước, không được nói láo hay phịa chuyện tránh nịnh hót cấp trên, nghĩ tới anh em nhiều hơn là mình.
    • Bớt ăn các chất prôtit và béo, thay vào bằng rau xanh và trái cây.
    • Tập yên lặng, quay về nội tâm nhiều hơn, lập bảng theo dõi các hoạt động trong ngày của mình, xét tật mình mỗi buổi tối trước khi ngủ.

6.11. Bản tính người “Tình cảm” CBG :

Đây là loại người cảm xúc, ít hoạt động và phản ứng gián tiếp. Thân hình thường ốm, cao, mặt nhiều nét nhăn. Ít nói, ít có cử chỉ bề ngoài, luôn có vẻ mệt mỏi, dễ bị bên ngoài ảnh hưởng, nên thích mơ mộng, thích thiên nhiên, hay suy nghĩ về thân phận con người, hướng nội, thích cô đơn, sống với dĩ vãng. Dễ bối rối, đa nghi, sợ phạm tội, mất lòng trời, lòng cấp trên, luôn nghĩ đến cái “tôi”, ghét người đời, thích cây, cá, kiểng. Thiếu tự tin, đa sầu, đa cảm, lạc hậu và ích kỷ là đặc điểm của loại người này, thêm tính hoài cổ, thù dai, thích cô độc, khó sống đời tập thể.

6.12. Tự Huấn tính “Tình cảm” :

    • Vì có nội tâm phong phú, nếu tự huấn tốt có thể thành người xuất chúng.
    • Sửa bớt tính quá lãng mạn : sống tình cảm nhưng cũng cần có lý trí, nếu không sẽ còn mơ mộng.
    • Tránh đọc sách loại ướt át, lãng mạn, khiêu dâm, tránh giao du với bạn cùng tính tình.
    • Sống cởi mở với bạn bè và cấp trên để bớt tính sầu muộn và cá nhân.
    • Tập tươi cười với anh em, coi sách phim trào phúng. Đừng ở lâu một nơi, nên đổi chỗ ở theo định kỳ, cố nở nụ cười trên môi khi tiếp chuyện.
    • Đừng quá đào sâu nội tâm, nếu không sẽ trở thành “bối rối”, sợ phạm tội và mặc cảm tội lỗi.
    • Cần có người hướng dẫn tâm hồn, và quyết tâm tuân phục các chỉ dẫn của người này.
    • Vì nhát gan, loại người này sợ đủ thứ, hãy ý thức : “nếu ta phạm lỗi thì ta đền bù, còn không có lỗi thì việc gì phải sợ. Cố gắng không để cho tâm hồn run rẩy vì sợ những chuyện không đâu : bóng tối, con sâu, con gián, v.v...
    • Hãy tự kỷ ám thị : “họ là họ, tôi là tôi, việc gì phải sợ. Tôi là một nhân vị, tôi có giá trị của tôi, họ có giá trị của họ. Tôi không thể tự chà đạp nhân cách của mình”.

6.13. Bản tính của người “Hăng-nóng” CHT :

Đặc điểm của típ người này là làm việc. Thân xác mạnh khỏe, bắp thịt nổi cộm, da khô và sạm nắng, tứ chi dài. Mặt hình chữ nhật, mắt sâu long lanh, lông mày rậm, tóc dày, cứng. Trán rộng, môi mỏng, miệng rộng, cằm nhô ra, răng chắc khỏe. Ưa cảm xúc, hay đỏ mặt hoặc tái xanh, mặt nghiêm nghị, cách đi cứng cáp, thở mạnh, ăn nói lớn, cứng rắn như ra lịnh. Còn tâm tính thì sao ? Nồng nhiệt, yêu đời, ham hoạt động, ưa chỉ trích, báo oán, phản đối, không sợ khó, hiếu chiến, kiêu hãnh, khinh người, khi trẻ cứng đầu, khi lớn độc tài, ham quyền lực, óc tổ chức, sáng tạo, ưa bạo lực, không chịu thua ai, táo bạo liều lĩnh, thích đổi mới, nói thẳng nói thật. Típ này hướng ngoại, nên thực tế. Thích ăn ngon, thể thao, lạc quan. Làm gì cũng ào ào nên dễ thất bại.

6.14. Tự Huấn tính “hăng-nóng” :

    • Ưa hoạt động mà không nhìn xa, cộng với cảm xúc mạnh, nên lý trí không kiểm soát nổi, nên biến thành lăng xăng lít xít, vậy trước khi làm gì phải suy nghĩ, lập kế hoạch, tìm cố vấn, trao đổi ý kiến, tham khảo trước.
    • Hành động chừng mực, theo kế hoạch trước là điều kiện thành công cho loại này.
    • Tự huấn để có tính điềm đạm, biết suy nghĩ, phán đoán đúng, bớt mọi thái quá trong lời nói, hành động hàng ngày.
    • Sửa bớt tính huênh hoang và nói dối, láo xược với cấp trên : điều cần nói phải nói và can đảm nói sự thật không thêm mắm muối.
    • Bớt tính dễ tin, đòi hỏi chứng cớ, nếu không, dễ tin sẽ thất bại, rồi đưa đến nghi ngờ tất cả.
    • Cần nhất là kiềm chế nóng giận, gấp nhất là rèn luyện lý trí.
    • Tính nóng-hăng cũng có ưu điểm cần tự huấn, để phát triển dồi dào hơn như : tài ăn nói, óc thực tế, cư xử tốt với bạn bè, tổ chức khéo léo và phát huy óc sáng tạo.

6.15. Bản tính người “Hùng khí” CHG :

Người “Hùng-khí” nhiều cảm xúc, thích hoạt động và phản ứng chậm. Người Hùng-Khí không lựa mục đích cho mình, chính dục vọng họ đặt mục đích buộc họ theo” (Jean des Vignes Rouges).

Tướng người lanh lợi, hăng hái, mắt sáng, tiếng rổn rảng, môi mím thường xuyên, mặt vuông, cằm nhô.

Típ này nhiều dục vọng, đam mê những việc xã hội trọng đại. Người hùng-khí nếu không được tự huấn sẽ để dục vọng lấn áp trong mọi hoàn cảnh. Tự bản chất tình dục không xấu vì nó là động cơ mọi hoạt động, người ta có thể thất bại vì tình dục, cũng có thể thành công vì tình dục. Tình dục làm lu mờ lý trí, làm cho típ người này trở thành hung ác, xấu xa, ngược lại cũng có thể trở thành vĩ nhân như : Tolstoi, Michelange, Napoleon, Quang Trung.

Cái “tôi” của người Hùng-khí là Tâm điểm của vũ trụ, thích chinh phục kẻ khác, thù dai, ham được tâng bốc, khuynh hướng hưởng lạc lớn, thích bôi nhọ kẻ khác, khinh người, độc tài, quyết đoán, can đảm, táo bạo, nhiều nghị lực, thích đời tập thể. Có thể cam chết vì lý tưởng, không vì tư lợi, không thích phân vân, than thở. Có loại Hùng-khí lai “Thần kinh” như Beethoven, Nietzsche, Tolstoi... thì, hoặc là nghệ sĩ và đam mê (Beethoven), là người thích cái gì cao siêu (Nietzsche), hoặc lai “cảm tình” như Michelange.

6.16. Tự Huấn tính Hùng Khí :

    • Cần tự huấn dục vọng, huấn luyện tính tình, bớt coi tư lợi. Ở đây không phải là “diệt dục” mà dùng lý trí, ý chí kết hợp với tình dục trong mọi hoạt động.
    • Nên có quan niệm chân chính về tình dục : Tình dục thái quá như quá yêu gia đình mà không thể thoát ly đi tu, hoặc hy sinh vì tổ quốc... tình dục không thái quá thì không xấu, cũng không tốt, giá trị luân lý của tình dục tùy đối tượng ta nhắm. Thí dụ vận dụng tình dục để uống rượu say, chích choác, hoang dâm dĩ nhiên là xấu, còn mẹ tận tụy nuôi con, cha cố công bảo vệ gia đình thì có gì cao đẹp bằng ?
    • Giữ tâm hồn trong sạch, làm việc theo tập quán tốt, sống sâu sắc đời sống nội tâm bằng nội quan là nỗ lực ý chí.
    • Nhớ, không thể tiêu diệt được tình dục, vậy hãy tìm cách hướng dẫn nó. Thí dụ : thay vì ham chơi thì ham học, v.v...
    • Dứt khoát chọn cái thiện, khi lý trí đã rõ đâu là thiện đâu là ác.
    • Hãy củng cố các đức tính tốt của loại Hùng-khí : tính dứt khoát, hay giúp đỡ, cần mẫn, có phương pháp, hăng say.
    • Cần đề phòng tránh các khuynh hướng xấu xa : quá tham vọng, quá dục vọng thể xác.

7. Khoa tính tình giúp ta gì trong việc Tự huấn ?

Có nhà xã hội học định nghĩa con người là con vật xã hội : xã hội gần là gia đình, xã hội xa là đồng bào, bạn bè ở trường lớp, trong ngành nghề, trong các cộng đoàn. Không ai trong xã hội lại sống đơn độc, và không ai bưng bít mãi được cá tính, khi giao tiếp giữa cộng đồng xã hội. Dù muốn dù không nội tâm mỗi người cũng biểu lộ qua cử chỉ, hành vi, thái độ.

Muốn thành công hay thành nhân, phải chọn một chí hướng hợp với khả năng mình. Người hướng ngoại mà chọn một nghề có lối sống ít hoạt động thì làm sao sống sung mãn được ?

Khoa tính tình học giúp ta nhận vai trò của sinh lý và tinh thần trong việc tự huấn. Trong thời gian tự huấn, nếu không luyện tập lý trí và nghị lực, thì con người sẽ sống theo bản năng gốc : chỉ biết ăn uống, ghép đôi, bài tiết.

Nhờ tính tình học, ta biết được tính của ta và của những kẻ ta sống chung. Tuy mỗi cá tính đều có khuyết điểm nhưng cũng có ưu điểm. Điều mà mọi cá tính cần đạt là Chân, Thiện, Mỹ, tức là mỗi tính tình đều phải tự huấn để trở nên tốt : đó mới là chân giá trị của con người.

Biết người, biết ta để xử thế “đắc nhân tâm”, để sống nhân bản hơn, để có thể chịu đựng nhau trong đời sống chung ; tiếp xúc với người hướng nội mà ta nói tía lia, họ có thích ta không ? Ta thuộc típ “thần kinh” ưa náo động mà ta bắt một ai đó trong cộng đoàn có tính “nhu nhược” phải bay nhảy như ta, họ làm sao chịu đựng nổi ta. Đời sống cộng đoàn là cần phải chấp nhận cá tính khác biệt của nhau, muốn vậy cần nhất là tự huấn sao cho có ý chí dẻo dai. Đây là một công việc cực khó, cần nhiều thời gian, mà ta thường gọi là “Thường huấn, là nhìn mọi sự với con mắt đức tin. Nếu không, hoàn cảnh, bạn bè, nghề nghiệp sẽ quyến rũ con người sống ác ! Ngay Đức Giêsu trong giờ hấp hối bản năng cũng làm cho người cảm thấy việc tử nạn cứu thế là một chén đắng, nếu có thể xin Chúa Cha cho khỏi uống ! Người đã phải nổ lực mới chiến thắng được cám dỗ ấy.

Nỗ lực, đúng vậy, nỗ lực là điều kiện để tự huấn và làm cho mình thành “người nhân bản hơn, người có tư cách hơn”.

Sau đây là 100 câu nói của các danh nhân, có thể giúp ta rèn luyện tính tình.

1. Bí quyết của cá tính cương quyết là nghị lực quyết định. Ở đâu nguyên tắc không điều khiển nữa, thì ý chí xuôi theo lợi lộc. (E. C ?).

2. Mục đích của giáo dục là tạo nên các cây tùng. (P. van Héc).

3. Sống tự chủ là sống tự do. (Lacordaire)

4. Tâm tính tôi luyện già giặn là ý chí hùng mạnh được điều khiển bởi một lương tâm tế nhị. (Huxley)

5. Bạn đừng làm “cục bột” không hình dáng, dùng làm gì cũng được mà chẳng nên việc gì cả. (H. Honoré)

6. Người ta không thể phán đoán một tính tình khi nó chưa được thử thách vào lúc bị buồn chán và khốn khổ. (M. Semer).

7. Con người hoàn toàn phải là một tổng hợp của ánh sáng, chí khí và trái tim. (L. Merklen)

8. Tài năng đào luyện trong thinh lặng, tâm tính đào luyện giữa xã hội. (Goethe)

9. Giới trí thức ngày nay chết vì quá hiểu biết, và vì “muốn” không đủ. (G. Dirks)

10. Phải tốt hơn một chút để vừa đủ tốt. (Miravant)

11. Buồn thảm nhập vào thế gian do sự lười biếng. (Labruyère)

12. Một người không mục đích là người không nghị lực (Tocqueville)

13. Kẻ nào hối hận coi như không phạm tội (Mabomet)

14. Trong việc “mua bán” lời nói, bạn chỉ nên dùng tiền vàng và tiền bạc thôi. (Jonbert)

15. Bạn đừng để lưỡi của bạn chạy trước tư tưởng của bạn. (Chilon)

16. Biết im lặng là đức tính hiếm có hơn biết nói. (Thánh Ambroise)

17. Nền tảng bất khả lay chuyển là đức công bình (Pindare)

18. Nếu là vấn đề công chính, thì sớm muộn nó cũng toàn thắng (J. Simon)

19. Lịch sự đích thực, không được phép phô bày tinh thần và tài ba của mình. (Bà De Lamber)

20. Giận dữ là một cơn điên ngắn. (Sénèque)

21. Danh dự cũng như con mắt : nó không chịu một chút dơ bẩn mà không bị mờ ! (Bossuet)

22. Đơn giản hóa đời sống là một nghệ thuật vĩ đại. (G. Perrot)

23. Linh hồn cần thanh khiết thì xác thịt cũng cần sạch sẽ. (Epictète)

24. Hãy ứng dụng công bằng bằng lời nói và hành động. (Pythagore)

25. Hãy tìm nhân đức nơi kẻ khác và tật xấu nơi mình (Franklin)

26. Hãy dùng toàn bộ hay một phần quyền lợi của bạn nhưng phải luôn lương thiện (Sextius)

27. Hãy tính toán suy nghĩ, nghiên cứu trước khi hành động. (Pythagore)

28. Ước gì người bạn mang ơn không ngăn cản bạn làm điều thiện. (Sextius)

29. Con người được sinh ra cho kẻ khác, vậy hãy sửa lỗi họ hoặc chịu đựng họ. (Marc Aurèle)

30. Trào phúng giống như muối : phải dùng nó cho đúng. (Pythagore)

31. Kẻ nghèo nhất trong thiên hạ là người hà tiện. (Chamfort)

32. Phẩm chất của một người ở tư cách của họ, không phải ở tài sản của họ. (Blackie)

33. Người hoang phí là kẻ thù của xã hội, người tiết kiệm, là ân nhân của cộng đồng. (Adam Smith)

34. Trong gia đình cũng như trong quốc gia, nhân đức dồi dào nhất là tiết kiệm. (Cicéron)

35. Người khôn là cuốn “tự điển” nói chuyện hay nhất. (Goethe)

36. Đừng làm cái gì quá lố. (Soon)

37. Chừng mực là trạng thái của một tâm hồn tự chủ. (Vauvenargues)

38. Bất cứ làm điều gì, hãy làm một cách tận tụy. (Kinh thánh)

39. Can đảm thật không phải là kêu gọi sự chết, mà là đấu tranh chống bạc phận. (Senique)

40. Làm mất thời giờ là phạm tội tự tử. (Young)

41. Không có gì giống kiêu căng bằng tuyệt vọng. (Amiel)

42. Chân thành là mở cửa lòng (La Rochefoucauld)

43. Không bao giờ được phép làm ác dù lý do bên ngoài xem ra chính đáng nhất. (Tertullien)

44. Thị hiếu chỉ được đào luyện bằng sự ngưỡng mộ cái tuyệt xảo chứ không bằng cái tầm thường (Goethe)

45. Tất cả mọi đường lên dốc đều gập ghềnh : can đảm (A. de Gasparin)

46. Những vĩ công được thực hiện không phải bằng võ lực mà bằng kiên chí. (Johnson)

47. Biết chờ đợi là phương thế hay nhất để đến nơi (Josephe de Maistre)

48. Lý trí đích thực và khôn ngoan chân thực là biết chừng mực (Bossuet)

49. Ta phải đặt nghĩa vụ và phẩm cách lên trên tất cả (Lacordaire)

50. Linh hồn của tự do là lòng yêu luật pháp (Klopstock)

51. Ông Vua và kẻ chăn thú đều có trách nhiệm của mình : người thì trách nhiệm về đế quốc, kẻ kia trách nhiệm về đoàn thú. (S. Simon)

52. Hãy luôn hành động thích hợp với sự cương quyết của bổn phận (P. Janet)

53. Lẽ phải hoàn toàn tránh mọi thái quá. (Molière)

54. Lý trí tuyệt đối ở đâu, có phải là Tạo hóa mà tôi tìm không ? (Fénelon)

55. Mọi hiểu biết đều do quan sát và thí nghiệm. (Sainte-Beuve)

56. Nhân đức là cuộc chinh phục của ý chí trên bản tính.

57. Nhân đức giá trị hơn cả vinh hiển. (Vaurenargues)

58. Nhân đức là khéo sử dụng tự do. (Thánh Augustin)

59. Nhân đức là sức mạnh mà tâm hồn chống cái ác và làm cái thiện. (Lacordaire)

60. Không bằng lòng về mình là dấu hiệu thật của nhân đức. (Plaute)

61. Ai không có chí khí, không phải là con người, mà là con vật (Chamfort)

62. Niềm vui tế nhị nhất là tạo khoái lạc cho kẻ khác. (Labruyère)

63. Muốn người ta nói tốt về mình thì đừng nói gì về điều tốt ấy hết. (Pascal)

64. Đừng chán nản, đừng ngã lòng : nếu bạn mới thất bại, hãy bắt đầu lại. (Marc-Aurèle)

65. Hễ tình dục là yếu đuối, hễ nhân đức là sức mạnh. (Lacordaire)

66. Tất cả chúng ta đều là nô lệ của pháp luật để có thể sống tự do. (Ciceron)

67. Sầu muộn vào thế gian bằng ngã lười biếng. (Labruyère)

68. Kẻ láo xược luôn hoang phí lời thề. (Corneille)

69. Thành thật trong lời nói là một trong những điều kiện căn bản để sống trong xã hội. (L. carrau)

70. Đừng lẫn lì lợm với già giặn : người già giặn biết rõ lòng độc ác của người đời ẩn trong tiếng hơn thua mà họ không thèm bận tâm. Còn kẻ lì lợm, bất kể đến tư cách của mình, ai nói đen không biết ai nói trắng không hay. (C. Paulin)

71. Hãy thường xuyên tưởng đến những gì là cao cả. (Cléobule)

72. Nếu bạn nghĩ đến những đau khổ của kẻ khác bạn sẽ than thở ít hơn. (Chilon)

73. Người khiên tốn và có giáo dục không cười quá to tiếng. (Bà De Maintenon)

74. Hãy là nhà phê bình nghiêm khắc cho chính bạn. (Boileau)

75. Quyền lực xây trên sợ hãi không vững bền. Theo thời gian sợ hãi biến thành oán hận. (Shakespeare)

76. Cái “tôi” đang ghét. (Pascal)

77. Hãy khảo sát mỗi hành vi của mình. (Marc-Aurèle)

78. Người công dân tốt phải sốt sắng với công vụ. (La None)

79. Ai muốn điều khiển thế giới hãy biết điều khiển mình trước. (Socrate)

80. Phương pháp là thầy của các vị thầy. (Talleyrand)

81. Đối tượng của giáo dục là không phải tạo ra các cái máy mà là những con người. (P. Janet)

82. Lý tưởng của giáo dục là được chuẩn bị đầy đủ cho toàn thể đời sống. (Herbert Spencer)

83. Ai làm chủ giáo dục có thể thay đổi bộ mặt thế giới. (Lelbutz)

84. Ngu dốt là bạn của nô lệ và rừng rú. (Diderot)

85. Ngu dốt là đêm không trăng, không sao của tinh thần. (Cicéron)

86. Cái gì không ích lợi cho tổ ong thì thực không ích lợi cho con ong. (Marc-Aurèle)

87. Chính giáo dục làm cho người này khác kẻ khác. (Locke)

88. Kẻ thù mạnh nhất của phụ nữ là sầu muộn. (P. Janet)

89. Bác ái là nợ đời đời vô bờ bến. (Pasquier-Quesnel)

90. Hãy thưởng thức đời sống mình mà đừng so sánh với đời sống của kẻ khác. (Condorcet)

91. Phải xứng đáng với những lời khen và tránh xa chúng. (Fénelon)

92. Dấu hiệu của sự tầm thường là luôn xa người có chừng mực. (Leibultz)

93. Nịnh hót là sự giao tiếp nhục nhã chỉ có ích cho kẻ dua nịnh. (Théophraste)

94. Giữa người nói xấu và kẻ làm ác chỉ khác nhau có cơ hội. (Quintilien)

95. Nếu ta nghe nói xấu kẻ khác, hãy hỏi bằng cớ, người nói xấu sẽ bối rối vì ít khi dẫn chứng được. (H. Marion)

96. Mắng chửi là lý lẽ của kẻ quấy. (J.J. Rousscan)

97. Tiền bạc giết tâm hồn hơn gươm đao giết thể xác. (Walter Scotte)

98. Chỉ có cần kiệm làm cho con người vững tâm về ngày mai của mình. (H. Marion)

99. Hãy thương yêu, hãy thắng cái ác bằng cái thiện. (Thánh Georges)

100. Muốn được tha thứ, hãy khoan dung. (Sénèque).

8. Nhìn lại tâm tính mình qua tính tình của Chúa Giêsu

(Theo ý TGM Nguyễn Văn Thuận)

Em,

Thế là Em – những người đang tìm hiểu mình để dự-định-mình-sẽ-là đã lần lượt xét mình qua tám cá tính, với các ưu khuyết điểm của chúng, với sự giúp đỡ phân tích khoa học và rất tâm lý của môn cá tính học, với mục đích duy nhất là biết mình để tự huấn, biết người để sống đời cộng đoàn, cùng chung và liên kết.

Và em cũng đã đọc qua 100 câu danh ngôn của các hiền nhân đầy kinh nghiệm trongviệc tự huấn, để không những “thành nhân” mà còn “thành danh” nữa. Nhưng như vậy đã đủ chưa ? Cứ cho là Em nắm vững và ứng dụng suất sắc vào đời sống chung Lasan ở môi trường Dự tu – nhớ : mới chỉ “dự-định-tu” chứ chưa “quyết-định-tu”, - thì vẫn chưa đủ !

Vấn đề không phải ở chỗ : Tìm cách hiểu mình, hiểu người để dễ-dàng-hóa”đời sống Lasan cùng chung và liên kết” mà là ở chỗ : “đàng sau cái con người “cùng chung và liên kết” đó, với biết bao ưu khuyết điểm, có một “hình tượng” nào khả dĩ khiến tôi xúc động noi theo, sống đạo một cách thực tế và biến cái đầu “dự-định-tu của tôi” tiến gần đến “cái-quyết-định-tu của tôi” không ?

Câu trả lời cho em, một lần nữa, lại là : “con đường vòng đôi khi lại là con đường ngắn nhất để giác ngộ”, vì lẽ chúng ta là người Á Đông mà : “con đường vòng giác ngộ đó là : tôi đã nhận ra tôi với bao biết bao khuyết điểm, và tôi đã chọn Đức Giêsu, vì Ngài cũng có nhiều khuyết điểm.

8.1- Chúa Giêsu trí nhớ rất tồi :

Trong cuộc đối thoại cuối cùng với hai tên gian tặc trên thập giá, lúc sắp trút hơi thở cuối cùng, có sự việc sau :

Một trong hai trên gian tặc nói : “Ông Giêsu ơi, xin nhớ đến tôi khi nào ông vào Nước của ông nha !”. Và Đức Giêsu đã hứa : “Tôi nói thật với anh đấy, hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Nước đó”. (Lc 23, 42-43)

Thật kỳ diệu Đức Giêsu không sưu tra lại lý lịch người đó để xem hắn gian ác ra sao, không cân nhắc tội hắn nhẹ hay nặng. Ngài đã quên không ra hình phạt thế nào cho thích hợp, tên gian tặc xin Ngài “nhớ”, thì Ngài chỉ nhớ một điều là người ấy đang xin Ngài nhớ, còn tất cả mọi hành vi xấu xa trước đây, Ngài đã quên hết, quên nên đã hứa ban nước Thiên Đàng cho anh ta ngay hôm đó !

Trong Tin Mừng, còn nhiều đoạn mô tả Đức Giêsu kém trí nhớ như vậy ! Câu chuyện “Đứa con hoang đàng” hay đúng hơn là : “Người cha nhân hậu” đã được thánh Luca kể lại rõ ràng, Người con út trong hai con của cha già đã lấy hết phần gia tài của mình, bỏ nhà ra đi sống đời phóng đãng, quên anh quên cha. Đến lúc tiêu hết tiền, khổ quá, thì quay về nhà, xin thú tội mong cha già xét tình cha con mà tha thứ !

Cha già – chính là Đức Giêsu – không kể đến tội cũ, chỉ ngóng trông đứa con trở về. Thấy con đàng xa, liền chạy ra đón. Con có thú tội cùng thì cũng lờ đi, đã quên hạch hỏi tội cũ mà lại ra lệnh : Lấy áo đẹp, giầy tốt, nhẫn quí mang lại cho cậu, làm thịt con bê béo đãi con vì “Con ta chết mà nay nó đã sống lại !”

Rõ ràng trí nhớ của Đức Giêsu không còn hoạt động nữa, Ngài quên hết mọi quá khứ xấu xa của ta. Mỗi khi chúng ta quay trở lại với Ngài, thì tức khắc ta lại được Ngài cưng chiều ban sự sống của Thiên Chúa.

    • Đức Giêsu kém trí nhớ, hay quên cực kỳ ! Tâm tính của Ngài đấy.
    • Còn Em, Em hay quên những gì ? Cá tính của em ra sao ?
    • Hãy tự huấn bằng cách tìm chép thật đẹp đoạn Tin Mừng của Thánh Luca trên.

8.2- Đức Giêsu dốt toán :

Trong dụ ngôn “Con chiên bị lạc”. (Mt 18, 12-14 ; Lc 15, 4-7)

Rõ ràng lối xử trí của Đức Giêsu tỏ ra Ngài dốt làm toán, không biết tính toán chút nào ! Một kẻ có một trăm con chiên giữa đồng không mông quạnh, mà mất một con chiên, hẳn phải tính toán xem làm sao cho một con đi lạc lại hơn 99 con còn lại – Thật là không biết làm toán – mà còn đi xa hơn nữa : Ngài bỏ qua 99 con còn lại ở nơi hoang vu để đi tìm cho kỳ được con bị mất. Một mà lớn hơn 99, hẳn Đức Giêsu không biết làm toán !

Còn nữa, trong hành trình rao giảng của Đức Giêsu, không phải số lượng đông đảo mà Ngài tìm kiếm, mà là những Con-Người. Chính vì thế, Ngài đã không ngại mất thời giờ để trao đổi với từng người, giảng dạy cho một người phụ nữ Samari trên bờ giếng Giacóp. (GN. 4, 1-42)

    • Đức Giêsu dốt toán, không biết tính toán hơn thiệt ra sao.
    • Còn Em, Em có khiếu toán học không ? Em có tính toán trong cuộc sống không ?
    • Hãy tự huấn mình bằng cách : làm lại “bài toán Dự tu” của mình.

8.3- Đức Giêsu không sành luân lý :

Đức Giêsu không những không so đo, tính toán trên số lượng, mà có lúc Ngài còn đi ngược lại sự khôn ngoan thông thường của con người.

“Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em hay bà con, láng giềng giầu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi”

“Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì để đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phước...” (Lc 14, 12-14)

Trong dụ ngôn : “Đồng bạc bị mất” (Lc 15, 8-10) : Trong đêm tối, người phụ nữ có 10 đồng đã để rớt mất một đồng : “Bà thắp đèn, quét nhà, moi móc tìm cho bằng được”. Khi đã tìm thấy, thì vui mừng bất kể giờ giấc nghỉ ngơi ban đêm của hàng xóm, bạn bè, bà mời họ đến chung vui với mình !

Đức Giêsu ví mình như người phụ nữ tìm được đồng bạc bị rớt ban đêm. Ngài không cần suy tính, luận lý : Thì hãy để ngày mai sẽ tìm, dù sao vẫn còn 9 đồng trong tay, vả lại đồng bạc rớt tại nhà làm sao mất được !

Nôn nóng đem nguồn vui của mình chia sẻ cho người chung quanh, không ngại sự nghi ngờ trong đêm vắng. Tại sao ? Vì Chúa là yêu thương, mà yêu thương của Thiên Chúa, vượt xa luận lý của con người.

“Giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng, vì một người tội lỗi ăn năn sám hối”. (Lc. 15.10)

    • Đức Giêsu không sành lý luận, rõ ràng là một khuyết điểm thuộc cá tính ! Nhưng sự dốt lý luận của Ngài là Tình Yêu.
    • Còn Em, Em có khuynh hướng hay lý luận không ? Lý luận của em với bạn bè, với người phụ trách bắt nguồn từ đâu ?
    • Hãy tự huấn bằng một việc làm và một quyết định :

a. Việc làm : chép thật đẹp đoạn Lc 15, 8-10.

b. Quyết định : Lý luận theo kiểu Đức Giêsu về một điều nghịch lý em bực mình nhất.

8.4- Đức Giêsu không biết kinh tế, tài chính :

Đức Giêsu đến trần gian để loan báo : Nước Trời ở gần con người, ngay bên cuộc sống con người. Ấy thế mà khi giới thiệu Nước Trời, Ngài nói qua một dụ ngôn : Nước trời như người chủ vườn nho thuê thợ làm vườn trong một ngày. (Mt 20, 1-16). Một ông chủ biết tài chính, kinh tế sao lại đi mướn công nhân từ tảng sáng, rồi giờ thứ 3, thứ 6, và nhất là giờ thứ 11 ! Mỗi giờ ông chủ đều đi tìm thợ để mướn ! (giờ thứ 11, theo lối tính của Do Thái thời Đức Giêsu, là sẩm tối rồi).

Chiều tối đó, ông chủ vườn – hiện thân của Đức Giêsu – bảo người quản lý trả lương cho mỗi người một quan tiền như nhau ?

Những người làm nhiều giờ bực tức vì ông chủ này không biết gì về tài chánh kinh tế cả, tệ hơn ông còn bất chấp cả lối tính toán và sự công bằng thông thường nữa !

Nhưng, Đức Giêsu có lối quản trị khác :

“Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi là một ngày một quan tiền sao ?... Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ghen tức ? Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót”. (Mt 20, 13-16)

Môn quản trị của Đức Giêsu thật độc đáo : quản trị đặt cơ sở trên con người, trên năng suất, chứ không trên thời gian ! Không biết có phải đây là khởi sự của môn Quản lý nhân sự hiện đang phát triển ở Mỹ vào thế kỷ 21 không ?

    • Đức Giêsu không biết gì về kinh tế, tài chánh, tệ hại hơn Ngài dường như thiếu công bằng khi đánh giá thời gian lao động !
    • Còn Em, cá tính của em thuộc loại nào ? Có thích lao động không ? Cá tính của em dùng tiền bạc ra sao ? Giờ giấc thế nào ?
    • Hãy tự huấn bằng cách điền vào bảng tự vấn sau :

1. Cá tính của tôi thuộc loại :

 

2. Những ưu điểm của loại cá tính này : (Chọn hai ưu điểm)

 

3. Những ưu điểm thuộc típ người này : (Chọn hai thôi)

 

4. Tận đáy lòng tiền bạc đối với tôi là :

 

5. Tôi đã dùng tiền, dù chỉ là 500, 1000 thế nào ?

 

6. Tôi đã phân chia thời gian của tôi khi rảnh rỗi ra sao ?

 

7. Mỗi ngày tôi dành thời gian cho Chúa bao nhiêu ?

 

8. Tôi có sòng phẳng về vấn đề tiền đóng góp theo qui định không ?

 

9. Tôi nghĩ gì về người phụ trách phân công lao động cho tôi ?

 

10. Tôi đã dùng hết thời giờ của tôi vào việc học – cả đời lẫn đạo – chưa ?

 

8.5- Đức Giêsu làm bạn với kẻ tội lỗi :

Ca dao Việt Nam có câu : “Gần mực thì đen gần đèn thì sáng”. Tục ngữ tây phương cũng có câu : “Hãy cho tôi biết anh thường lui tới với ai, tôi sẽ cho anh biết anh là người như thế nào”. Tâm lý hơn Trung Quốc có câu : “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” ! Không chỉ trong xã hội Do Thái thời Đức Giêsu, mà ngay xã hội Việt Nam thời công nghiệp hóa, hiện đại hóa, người ta khó lòng chấp nhận chuyện một “người đàng hoàng” lại giao du với lớp người bị xã hội coi là “Bê bối” !

Thời Đức Giêsu, hai loại người “Không đàng hoàng-Bê bối” là quân thu thuế và người tội lỗi, đặc biệt là gái điếm. Từ “người tội lỗi” – thời Đức Giêsu – đồng nghĩa với người phong cùi, tàn tật...

Trong Tin Mừng, các thầy Pharisiêu nhiều lần thắc mắc với các môn đệ Đức Giêsu, bằng cách nhắc nhở họ :

“Sao thầy của các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi như vậy ?” (Mt 9, 11). Và, “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng” (Lc 15,2).

Đọc kỹ Tin Mừng, ta thấy quả thật không phải vì lịch sự, vì bất đắc dĩ được mời, nên phải chiều người ta, nhưng đúng là Ngài tự tìm tới nhà người thu thuế và kẻ tội lỗi, làm thân với họ, và ở lại nhà họ ! Ông Da-kêu là người “đứng đầu những người thu thuế” (Lc 19,2), thế mà khi nhìn thấy ông trên cây, Đức Giêsu nói ngay :

“Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”. (Lc 19,5).

Người xung quanh hành tỏi : “nhà người tội lỗi mà mấy ông cũng vào trọ” (Lc 19)

Rồi một trong mười hai tông đồ là Mathêu, tức Lê-vi, cũng là một người thu thuế. Để giải thích thái độ ngược đời này, chính Đức Giêsu đã giải mã :

“Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa câu này : Ta muốn lòng Nhân chứ đâu cần Lễ Tế. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,12)

Cá tính của Đức Giêsu là thế đấy, nếu xét theo cá tính học thì không biết xếp vào loại nào trong 8 loại, có lẽ nó là tổng hợp cả 8 loại. Nhưng có lẽ hơi giống loại “Hùng khí – CHG” đã tự huấn tốt !

    • Còn Em, trong thâm tâm, em coi người tội lỗi, gái điếm... là gì ?
    • Có bao giờ em hiểu rõ câu : “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” ? hay câu : “có vào hang cọp mới bắt được cọp con” không ?
    • Hãy tự huấn bằng cách : Tìm hiểu và viết ra giấy thật rõ ràng :

a. Yêu thương là gì ?

b. Thế nào là tội ?

8.6- Đức Giêsu thích ăn uống, tiệc tùng :

Đức Giêsu mở đầu sứ mạng rao giảng công khai với tiệc cưới ở Cana (Gn 2,1) và kết thúc cuộc gặp mặt chung với các môn đệ trước khi vào cuộc khổ nạn bằng bữa Tiệc Ly ở Giêrusalem. (Mt 26,17)

Đọc kỹ Tin Mừng, ta thấy mỗi lần đến nhà nào, gặp ai, đặc biệt là những người “không đàng hoàng”, Chúa thường ở lại ăn uống !

Ngược lại, nhiều tôn giáo và tâm thức nhiều nền văn hóa, khi nói đến thần thánh, đạo đức, tôn giáo thì nhất định có nói đến ăn chay và cầu nguyện. Phải chăng đây là một nghịch lý ?

Luca thuật lại rằng : “Sau bữa tiệc lớn tại nhà Lêvi-Mathêu sau này, các thầy Pharisêu và những người thông luật đã nói với Đức Giêsu : “Môn đệ ông Gioan năng ăn chay cầu nguyện, môn đệ người Pharisêu cũng thế, còn môn đệ ông thì chỉ ăn với uống !” (Lc. 6,33)

Cả người Pharisêu và chúng ta đều không hiểu cái nghịch lý mới mẻ trong sứ điệp của Đức Giêsu là ở chỗ : Tin Mừng Ngài mang đến không phải là ăn tiệc hay ăn chay, nhưng tiên quyết là Yêu-thương, phải xuất phát từ đáy lòng mình. Thánh Augustinô tóm tắt ý này – mà luật dòng Lasan cũng đã lập lại – trong câu : “Hãy yêu, rồi làm gì thì làm” !

(Ama et fac quod vis)

  • Đức Giêsu thích ăn uống tiệc tùng, vì người dùng bữa ăn để cứu người tội lỗi : Madalèna, Da-kêu,... để biểu lộ sứ mạng của Ngài : Tiệc Cana, Tiệc Ly, Bữa cá nướng sau khi sống lại, Bữa cơm bẻ bánh với hai môn đệ Emmau...
  • Còn Em, cá tính của em có thích ăn uống không ? Khi ăn uống, tiệc tùng em tự nhận xét về bản năng này nơi em ra sao ?
    • Hãy tự huấn bằng cách cố nhớ lại có các món gì trong ba bữa ăn : Điểm tâm – cơm Trưa – cơm Tối của ngày lễ Thánh Gioan Lasan 15.5.2000 vừa qua và ghi lại.

a. Em phục nể ai nhất trong bữa ăn ngày đó, vì sao ?

b. Bản thân em có điểm nào giống Đức Giêsu khi ăn uống tiệc tùng ?

c. Viết ra một quyết định em quyết tâm sửa bỏ khi ăn uống, tiệc tùng.

8.7- Đức Giêsu không giữ luật Do Thái :

Không phải chỉ lui tới kết thân với kẻ tội lỗi, Đức Giêsu còn ăn uống, dự tiệc với họ, còn kéo theo cả một đám môn đệ đi theo nữa ! Quả thật, Đức Giêsu đã không màng gì đến luật lệ của cộng đồng Do Thái đương thời ! Ngài bất chấp luật “rửa tay trước bữa ăn”, đi thẳng vào bàn tiệc, nên “ông Pharisêu lấy làm lạ vì lúc đầu, người không rửa tay trước bữa ăn”. (Lc 11,38)

Trong ngày Sabát, Ngài hay chữa bệnh :

    • Chữa lành người bại liệt (Lc 6, 8-11)
    • Chữa người mắc bệnh cùi (Lc 14, 1-6)
    • Chữa lành người phụ nữ còng lưng (Lc 13,14)

Hành động như vậy khác nào chọc giận người Do Thái ! “Ông trưởng hội đồng tức tối vì Đức Giêsu đã chữa bệnh vào ngày Sabát”. (Lc 13,14). Ngài không giữ luật và các môn đệ cũng không giữ luật :

“Vào ngày Sabát, Đức Giêsu đi qua một đồng lúa, các môn đệ đưa tay bứt lúa ăn. Các người Pharisêu thấy, nói : “Tại sao các ông làm điều không được làm trong ngày Sabát ?” (Lc 6, 1-12). Trước các chỉ trích này, Đức Giêsu còn binh môn đệ : “Con người làm chủ ngày Sabát” (Lc 6,9)

Đức Giêsu đến để làm trọn lề luật, để ban luật mới là luật Yêu Thương, là luật có chiều kích nội tâm, để xóa bỏ lối giải thích lề lối rắc rối về luật Do Thái : “Khốn cho các ngươi giả hình, như mồ tôi vôi, bên ngoài trắng sạch mà bên trong thối tha” (Mt 23, 13-36)

Nếu nhìn bằng cặp mắt của nhà cá tính học, thì rõ ràng Đức Giêsu thuộc loại người ưa chống đối, ngang bướng và thích đổi mới theo một chương trình vĩ đại của mình.

    • Còn Em, cá tính của em có hay chống đối “luật nhà” không, có bướng bỉnh cãi lại các chỉ dẫn của người phụ trách để tự làm theo ý mình không ?
    • Các khuyết điểm của em có giống khuyết điểm của Đức Giêsu là phá bỏ để xây dựng luật Yêu Thương, chống lại lối sống giả hình không ?
    • Hãy tự huấn mình bằng cách :

a. Chép lại, học thuộc lòng câu Mt 23, 13-16.

b. Duyệt xét lại các hành vi không giữ nội qui trong đời sống chung của một thành viên.

8.8. Chúa Giêsu như kẻ điên :

Lính của Philatô coi Đức Giêsu như kẻ điên : họ choàng áo đỏ, đội vương miện bằng gai cho Ngài để chế nhạo Ngài là kẻ điên khùng. Phêrô, người lãnh tụ nhóm 12, vừa được Chúa phong làm đầu giáo hội : “Anh là Phêrô, nghĩa là đá tảng, trên đá này thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực Tử Thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18), người được Chúa tin yêu như thế cũng không chịu nổi những lời điên dại của người ! “Người phải lên Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ, do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết và sẽ sống lại ngày thứ ba”. (Mt 16-21). Tại sao lại bị coi là điên dại ? Vì Đức Giêsu gọi môn đệ theo mình, rồi lại thông báo mình sẽ chịu cực hình, và bị giết ! Điên hơn nữa là khi chết rồi nói sẽ sống lại sau ba ngày !

Trong tất cả các sách Tin Mừng, đoạn nào cũng nói về hành động khác thường, lời nói và thái độ kỳ bí, chẳng khác nào của một người mất trí ! “Hãy yêu kẻ thù và làm điều tốt cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu cáo anh em. Ai vả má bên này, hãy giơ cả má bên kia cho họ vả. Ai đoạt áo ngoài của anh, cũng đừng cản họ lấy áo trong. Ai xin thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh thì đừng đòi lại... (Lc 16, 27-31)

Nói như thế làm sao nghe lọt lỗ tai kẻ phàm trần Do Thái chỉ biết giữ luật “Mắt đền mắt, răng đền răng” ! Họ có biết đâu rằng chính sự điên dại này một khuyết điểm thấy nơi Chúa Kitô, lại là sự khôn ngoan lạ lùng của luật Yêu Thương mới ! Có ai không cảm phục một người chết cho tình yêu bao giờ đâu !

    • Còn Em, những lời nói, hành động khùng điên lúc nóng giận có được thăng hoa bằng Tình Yêu không ?
    • Em có bản năng cá tính ưa trả thù vặt, và không tha thứ cho người anh em đã xúc phạm đến mình không ?
    • Hãy tự huấn bằng cách : vẽ một bức tranh 2 mặt song song, xấu đẹp gì cũng được, để nói lên rõ ràng hai thái độ :

a. “Đánh má này, giơ má kia”

b. “Mắt đền mắt, răng đền răng”

8.9. Đức Giêsu phiêu lưu :

Không phiêu lưu sao được khi Đức Giêsu đặt cọc tín nhiệm của mình nơi Phêrô, một bác chài lưới ít học, bộp chộp, sợ sệt đến cả chối bỏ thầy, để thực hiện một Chương Trình cứu chuộc nhân loại, một dự tính rao truyền Phúc Âm khắp các dân tộc, cho mọi thế hệ ! Không phiêu lưu sao được, khi sai các môn đệ đi rao giảng nước Chúa : “Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, túi sách, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo !” (Lc 9,3). Không phiêu lưu sao được, khi trong việc tuyển lựa các môn đệ, ngay các môn đệ cũng nghi ngờ là Ngài quá phiêu lưu.

Khi Ngài nói Ngài sẽ bị bắt, bị giết và sống lại ngày thứ ba, thì thật là phiêu lưu cực độ : “Nghe vậy, các môn đệ buồn phiền lắm !” (Mt 17,23)

Khi Chúa nói với họ : “Nếu các Anh không ăn thịt và uống máu con người, các Anh không có sự sống nơi mình” (Gn 6,53) thì môn đệ của Người liền nói : “Lời thầy chướng tai quá ! Ai mà nghe nổi” (Gn 6,60). Vì thấy lời Chúa khó nghe và phiêu lưu quá, nhiều môn đệ đã rút lui. Lúc đó Chúa quay hỏi 12 Tông đồ : “Cả anh em nữa, anh em cũng bỏ đi sao ?” (Gn 6,67). Không chỉ thế, Chúa còn đòi những ai theo Chúa cũng phải phiêu lưu : có lần, một người muốn theo Chúa nói : “Thưa thầy, Thầy đi đâu tôi cũng xin đi theo”, Người trả lời : “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có chỗ tựa đầu”. (Lc 9,58)

Và cuộc phiêu lưu tột đỉnh của Yêu thương nơi Đức Giêsu, sau này Thánh Phaolô mô tả cho Giáo đoàn Philipphê :

Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì, địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”. (Phl 2, 6-8)

Quả thật, theo tính tình học, Đức Giêsu có một cá tính ưu phiêu lưu mạo hiểm thái quá. Chiều theo bản tính phiêu lưu thái quá mà không có mục tiêu rõ ràng, siêu thoát, thì là một nhược điểm rồi !

    • Còn Em, Em có bản năng thích phiêu lưu không ? Sự phiêu lưu theo bản năng gốc hay có mục đích thâm sâu như Đức Giêsu ?
    • Trong việc chọn môn học đại học, việc tự huấn cá tính để trở nên tốt, có bao nhiêu % phiêu lưu ?
    • Hãy tự huấn bằng cách lập lại “dự án đời mình”, để xét xem ý định “dự tu” của mình có phiêu lưu không ? Nếu có, thì biện pháp giải quyết ra sao ?

8.10. Đức Giêsu có những lời giảng xem ra mâu thuẫn :

Theo cá tính học, ai có lời mâu thuẫn, tức loại VBG : mâu thuẫn dễ dẫn đến Bệnh cuồng trí. Nhưng nơi Đức Giêsu, mâu thuẫn ???? “lời” từ Thiên Chúa, khác với “lời nói” của chúng ta !

Làm sao cho là hợp lý được khi Đức Giêsu tuyên dương : Phúc cho kẻ nghèo, Phúc cho kẻ đói, phúc cho kẻ khóc than, phúc cho kẻ bị oán ghét. (Lc 6, 20-22). Rồi mâu thuẫn hơn nữa, Ngài nói : “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”. (Lc 9,24).

Thật phi lý, khi ví nước Trời, nước của Đấng toàn năng vô tận, với một hạt cải (Lc 13, 18-19). Còn gì phi lý hơn khi tuyên bố mình là “Con Thiên Chúa, Đấng hằng sống” (Lc 23,70) lại phải chấp nhận sự chết, và chết nhục nhã trên thập tự !

Rõ ràng các lời nói mâu thuẫn của Đức Giêsu đều mang một ý khác, một ý nghĩa múc nguồn từ Tình-Yêu. Tình yêu biến các khuyết điểm thành ưu điểm.

    • Còn em, em có khuyết điểm không, em có mâu thuẫn trong lời nói và hành động không ?
    • Mâu thuẫn của Em thuộc diện cá tính học hay múc nguồn từ tình huynh đệ ?
    • Hãy tự huấn bằng cách :

Lập một bảng so sánh các lời nói mâu thuẫn với hành động của mình trong một tháng rồi thử tìm một giải thích cho các mâu thuẫn đó.

Em,

Sau khi đã lược qua mười khuyết điểm của Đức Giêsu kể lại trong Tin Mừng, chúng ta thấy cần phải yêu các khuyết điểm của Ngài, và nên chọn Đức Giêsu :

    • Làm thầy, làm mẫu mực tuyệt đối cho đời tự huấn của những ai vừa có ý định theo gương Chúa.
    • Vì Ngài là Chúa, là Tình Yêu, đã dẫn lối cho tôi, một thứ hướng dẫn khác với lối nghiên cứu môn tính tình học, đặc biệt trong những ngày tháng tôi thấy xao xuyến, bức rức, khổ đau vì cuộc sống chung với anh em – bá nhân bá tánh !
    • Vì tình yêu của Ngài không nhớ lỗi lầm, không tính toán, không xét nét, không vị kỷ, không phê phán, không câu chấp, không gò bó, không biên giới, không điều kiện.
    • Vì Tình Yêu đó yêu điên cuồng đến độ phiêu lưu và hy sinh cả mạng sống mình.
    • Vì Tình Yêu đó cân khác với các mẫu mực nhỏ hẹp của xã hội và lối cân nhắc giới hạn của con người.
    • Vì Chúa là Đấng trọn lành làm sao có khuyết điểm được, nhưng Chúa lại là Tình Yêu vô hạn : một mầu nhiệm đối với tôi. Trí khôn tôi không hiểu nổi, không tin nổi nên gọi là khuyết điểm. Khuyết điểm đó lên đến tuyệt đỉnh trên thập giá. Cả 10 khuyết điểm cô đọng trên thập tự khi người lính thách đố Chúa :

Nếu ông thật là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá để chúng tôi tin”.

Cũng vậy : Người dự tu cũng bị thách đố :

Nếu Em thật sự muốn biến dự-định-tu của em thành quyết-định-tu, hãy tự huấn mình mỗi ngày, mỗi giờ, để các bạn em thấy, và người phụ trách thấy, là quả thật, em đang có gì đó mà người ta gọi là Ơn-gọi”.

Chúc các em đạt ước mơ của mình.

Lễ Thánh Gioan Lasan 15.5.2000

Dự Tu Học Nhập Môn

Gồm :

1. Sổ Tay Cá Nhân Về Hoạt Động Tu Thân. (Phần thực hành)

2. Giáo Trình Dự Tu Học. (Phần giáo dưỡng)

Phần I :

Chương 1 : Tại sao Tự Huấn ? – Một Dự Tính.

Chương 2 : Làm sao để Tự Huấn ? – Năm Trục-Bước.

Phần II :

Cơ sở Tu Hành trong Văn Hóa VN.

Chương 3 : Cơ Sở Văn Hóa VN.

Chương 4 : “Tu đâu bằng tu tại gia”

Chương 5 : Hình tượng một tu sĩ trong nền Văn Hóa Nông Nghiệp.

Phần III :

Đời Tu sau năm 2000

Chương 6 : Hình tượng một tu sinh thế kỷ 21

Chương 7 : Hình tượng một tu sinh Lasan mới.

Chương 8 : Dự Tu ! Em là Quê Hương.

Lasan
(Theo Dòng Lasan Việt Nam)


Tin liên quan:
KHẤN LẦN ĐẦU [19.03.2013 10:36 | 1189 hits]
HÌNH ẢNH LỄ KHẤN LẦN ĐẦU [18.08.2012 10:47 | 1822 hits]
HÌNH ẢNH LỄ MẶC ÁO DÒNG [18.08.2012 10:31 | 2938 hits]
KHẤN TRỌN ĐỜI [21.07.2012 03:58 | 1237 hits]
NGHI THỨC NHẬP THỈNH VIỆN [29.07.2011 16:11 | 1287 hits]
Hồng Ân Thánh Hiến 2010 [16.08.2010 08:46 | 1900 hits]
Sh. Marcel Paul Nguyễn Thành Phước [28.09.2008 00:23 | 2656 hits]


Bản để inIn bản tin  Lưu dạng fileLưu bản tin  Gửi tin qua emailGửi cho bạn


Ý kiến của bạn về bài viết:
DỰ TU HỌC NHẬP MÔN
Tên bạn: *  (Ghi đầy đủ Họ và Tên có dấu của bạn)
Email: *  (Địa chỉ Email có thật của bạn)
Thảo luận *
(Vùng Soạn Thảo, nội dung soạn thảo phải rõ ràng, có tính chất phù hợp với nội dung thảo luận theo tin tức trên)

Mã kiểm tra chống SPAM:
Mã kiểm tra chống SPAM

Lặp lại mã kiểm tra: *

Những bản tin khác:
 Giới thiệu Dòng La San [18.04.2009 08:46 | 3261 hits]
 Thắp sáng tình huynh đệ [18.07.2008 18:54 | 2623 hits]



Gửi tin
Lên đầu trang
 
Lời Thánh Gioan Lasan 
Nếu anh em muốn những ai mình dạy dỗ đi đúng trên con đường dẫn tới Thiên Đàng, thì anh em phải giảng dạy cách ngôn này cách đặc biệt, để sau này anh em có thể nói với chúng : Điều an ủi chúng tôi là các con đã sống không trách vào đâu được
MR 200,3,2
 
Tìm Kiếm 

 
Trung Tâm La San Đà lạt 

ALBUM NHẠC LASAN
Mừng kính thánh Gioan La San
Duy Quyết
Hiến lễ đời con
Diệu Hiền
Gặp gỡ Thiên Chúa
Xuân Trường
Chúa nói yêu con
Duy Quyết
Chúa Giêsu Ngự Trị Lòng Ta
Duy Quyết
19 - La San Đi Tới
18 - Hoa Trái Dặm Trường 5
17 - Chung Tay Tiếp Bước
16 - Hoa Trái Dặm Trường 4
15 - Mái Trường La San
 
Thống Kê 
 Khách: 004
 Thành viên: 000
 Đang truy cập 004
 Tổng lượt truy cập 003923986
 
Lịch Tra Cứu Bài Vở 
Tháng Bảy 2017
T2T3T4T5T6T7CN
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31            
 <  > 
Trang Thông Tin của Tỉnh Dòng La San Việt Nam
53B Nguyễn Du, P. Bến Nghé, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
ĐT: 38.299.134 - Email Ban Quản Trị : weblsvn@gmail.com

Lên đầu trang