Tin tức » Sứ mạng Giáo dục » Chuyên môn 13.05.2021 23:27
TÌM HIỂU TÂM TÍNH HỌC
® 18.07.2008 03:01 | 2750 hits ®

Xem hình
Phần đông các nhà tâm tính học đều công nhận cơ năng tâm tính này, vì thế, chúng ta bàn học đến nó trước tiên.
Trước một sự kiện nào, đời sống tâm linh của chúng ta đều bị ảnh hưởng hoặc mạnh hay yếu : đặc tính này được mang tên là CẢM NĂNG. Ở đây chúng ta muốn bàn đến “cơ năng” nghĩa là cơ năng thúc đẩy con người buồn, vui, khóc, cười, khắc khoải, hy vọng; là cơ năng gây cho tâm hồn bối rối lo âu một cách quá đáng, hay từ vui tươi phấn khởi đột nhiên trở nên buồn phiền ảo não.

CẢM NĂNG

SH. HỒ TẤN PHÁT

Click to view full size image

Mỗi một người chúng ta đều mang lấy cảm năng, kẻ ít người nhiều, trăm người trăm kiểu. Cùng đứng trước một sự kiện, có người áy náy dao động nhiều và dễ, còn kẻ khác thì lòng vẫn trơ trơ, do đó ta phân loại : “dễ cảm” và “vô cảm”.

Giờ đây, chúng ta thử minh định – một cách tóm tắt – bản chất của cảm năng, nghĩa là cảm năng bao hàm một tác động phóng thích của một số lượng trong con người.

Muốn phân biệt các loại cảm năng, chúng ta cần phải chú ý tới cường độ và sự phân phối của lợi ích, hứng thú, sở thích của con người nữa ; ví dụ có kẻ luôn sẵn sàng chạm trán với mọi nguy hiểm song lại bối rối khi tiếp chuyện với một phụ nữ trong phòng khách.

Muốn định mức độ cảm năng, chúng ta dùng tiêu chuẩn sau : thuộc loại “dễ cảm”, những người nào – cùng với một hậu quả – chỉ cần bị kích thích nhẹ là đủ ; thuộc loại “vô cảm”, những người nào – cùng một hậu quả trên – cần phải bị kích thích mạnh mới có được hậu quả mong muốn.

Trước khi học bàn những tiêu chuẩn xác định loại cảm năng, thiết tưởng cần chú ý đến hai điều này :

- Có loại “cảm năng liên kết”, nghĩa là còn liên kết, bao gồm, sống chung với những cơ năng khác trong những hoạt động tâm lý của một người.

- Còn loại cảm năng “nguyên tính”, khi bàn đến, phải chú trọng, đến đối tượng môi trường hoạt động của nó nữa, nghĩa là có loại chỉ cảm với những đối tượng đặc biệt mà thôi.

CÁC TIÊU CHUẨN VÀ NHỮNG SỰ TƯƠNG QUAN
CỦA CẢM NĂNG

Giờ đây chúng ta tìm những tiêu chuẩn khả dĩ giúp ta nhận ra cùng đánh giá cảm năng của từng cá nhân. Heymas có cho một tiêu chuẩn sau :

“Thuộc loại cảm, những ai đặt tâm chú ý vào những chuyện nhỏ nhặt không đâu, dễ xúc cảm và rơi lệ vì những nguyên do tầm thường”.

Nói tổng quát, muốn phân biệt dễ cảm, chúng ta để ý tới sự bất cân xứng giữa sự quan trọng khách quan của nguyên nhân, tầm quan hệ thật sự của nó với chấn động chủ quan xảy ra trong cá nhân, dù người đó muốn hay không.

Để phân biệt khả năng rung động của loại dễ cảm, chúng ta nên đặt họ – với sự kiện hay bằng tưởng tượng – trước những trường hợp thường tình họ không thích mê gì lắm. Bởi vì người ta ai cũng bị xúc động khi thấy những gì mình rất ưa thích bị đe dọa, những loại dễ cảm lại rung động vì những chuyện không đâu và họ thường là người nhận ra sự không đâu đó trước tiên.

Theo Heymas, người dễ cảm thường có những nét chính về tính tình như sau : ở không yên, mạnh bạo, tính tình thay đổi, dễ bị ảnh hưởng, khích động, lo âu, thích dùng những từ ngữ mạnh, chủ quan và tìm kiếm.

Người “vô cảm” thì trái lại : bình thản, điềm đạm, tính tình ít thay đổi, lạnh nhạt…

ẢNH HƯỞNG CỦA CẢM NĂNG
TRÊN ĐỜI SỐNG TÂM LÝ

Sự rung động bên trong mạnh hay yếu được biểu lộ bằng những hậu quả mạnh hay yếu mà ta có thể nhận được qua đời sống hoạt động và trí thức của họ.

Trên bình diện hoạt động, cảm năng là động lực mạnh mẽ cho sự hoạt động cũng như cho việc nâng đỡ, khuyến khích ; cảm năng giúp con người yêu thích thêm những gì đã hợp sở thích của họ rồi, khiến con người hành động dễ dàng hơn.

Về bình diện trí thức, cảm năng rất hữu ích cho đời nghệ sĩ, chủ quan và rung động, như thế giúp đỡ nhiều cho khả năng văn chương, âm nhạc và diễn thuyết.

Theo sự điều tra của Heymas thì số nghệ sĩ tăng theo sự tăng tiến của cảm năng.

Mounier cho rằng những người dễ làm thì là nghệ sĩ, và cái khoác lác mà họ thường vấp phải là sự nói dối bởi sự tô điểm thêm cho sự kiện, vì tự nhiên họ cần tô điểm sự kiện cho nó thêm dễ cảm, tinh anh và cảm động hơn ! Họ không thể nào kể được một câu chuyện mà không thêm “tiêu muối” cho mùi, cho đẹo hơn. Và họ thường rất đầy đủ khả năng về trí thức thông minh trực giác và óc tưởng tượng thực tiễn.

Trái lại, cảm năng không thích trừu tượng hóa, việc tổng hợp, sự khách quan và chân thật, mà thích để ý mạnh tới một vài tiền đề, nhưng lại bỏ phế một vài tiền đề khác, thích thu hẹp lại nhãn giới, kích thích thêm những xúc cảm tức thời…

Tự nhiên là nếu bớt cảm năng thí bớt nói khoác… Nhưng nếu cảm năng bớt đến một độ nào đó thì sẽ hóa ra “lạnh lùng” khiến con người sẽ gặp những hậu quả khác.

HOẠT NĂNG

Ví dụ nếu có hai người cùng chung một sở thích, những cả hai không hệt giống nhau. Như để đạt tới múc đích ước muốn đó, anh A dùng một số lượng “n” hoạt động, còn anh B thì cần đến “an” hoạt động. ta bảo anh A “hoạt động” (actif) hai lần hơn anh B.

Hoạt năng là một cơ năng cấu thành khác ngoài cảm năng. Heymas – Le Senne phân biệt kỹ lưỡng loại “hoạt năng bộc lộ”, “bên ngoài” và loại “hoạt năng tâm tính”, loại đầu độc lập với hoạt động thực sự, thường thâu lại trong tính xung động và cuối cùng biểu lộ qua một cảm năng mạnh mẽ.

Loại thứ hai, trực tiếp đến bởi tâm tính, xác định một khuynh hướng bẩm sinh quay về hoạt động. Nơi trẻ con có khả năng hoạt động mạnh, ta thấy cả nhu cầu bộc phát cần hoạt động các bắp thịt : chạy, nhảy, tất cả những trò chơi đòi hỏi lanh lẹ và sức mạnh. Còn những người lớn thuộc loại hoạt động thường thích những môn mạnh bạo : săn, trèo núi… Bên cạnh loại này ta thấy có những trẻ dễ bỏ cuộc chơi để đi đọc sách hay tán dóc, những người lớn thích ghế dài hơn là những cuộc mạo hiểm, thích ciné hơn là thể thao. Đó là loại “bất động” (inactif) – theo Burloud – nhưng không phải là “lười biếng” vì có những người siên học cũng thuộc loại này. Đây có nghĩa là một tính siêng năng ban sơ và bẩm chất, chứ không là một tính hoạt động tâm lý theo cách chung.

Tóm lại, hoạt năng là khả năng hoạt động tại sự, nghĩa là, thuộc loại “hoạt động” không phải là làm việc nhiều, hay loay hoay, múa máy luôn ngày, nhưng là thích làm việc, loay hoay múa máy cách tự nhiên, bộc phát. Như thế hoạt năng không phải ở trong hoạt động mà ở trong khuynh hướng thích hoạt động. Và cũng nên biết rằng, khuynh hướng này bẩm sinh.

Làm sao hiểu được tính hoạt động bẩm sinh này ? – Cũng như mọi năng lực khác, cảm năng phải làm việc trên một sự chống đối. Nguyên do của sự chống đối này có thể là do sự suy nhược của vài bộ phận (tiêu hóa, tuần hoàn…) hay do sự ngưng trệ của một vài bộ phận khác. Cái cần là cái tổng hợp trung bình của những sự chống đối này. Như thế, nếu chống đối mạnh, cảm năng phải tiêu thụ nhiều năng lực cần cho các hoạt động bên ngoài. Vậy người ấy sẽ ít “hoạt động” hơn người nào ít chống đối. Nói cách khác, với nhiều cảm năng người nào ít hoạt động thì gọi là “vô hoạt” (inactif), người nào hoạt động nhiều thì thuộc loại “hoạt” (actif). Cũng như cảm năng, ta cho điểm tượng trưng cho hoạt động năng là 10. Từ 0 – 5 là “vô hoạt”.

CÁC TIÊU CHUẨN VÀ NHỮNG TƯƠNG QUAN
CỦA HOẠT NĂNG

Muốn biết tính hoạt động người nào, ta chú ý đến phản ứng của họ trước một trở ngại và xem họ có thi hành liền các bổn phận hay là trì hoãn lâu ngày. Kinh nghiệm cho thấy nếu người đó không cung cấp đủ năng lượng cần thiết, tức nhiên sẽ lùi bước trước khó khăn, trái lại, có kẻ lại tìm thấy trong cản trở một lý do thêm nữa để hoạt động. Thống kê cho thấy, loại “hoạt động” thường bền đỗ, dai sức hơn loại “vô hoạt” (trung bình là 56,5 và 25,3). Nói cho cùng thì loại “hoạt động” đơn thuần (pur) thì làm một việc gì chỉ vì việc đó khó khăn mà thôi, ví dụ người leo núi với lý do leo núi là khó khăn.

Như vậy, tiêu chuẩn lý tưởng là phản ứng trước trở ngại. Đây chính là yếu tính và dấu hiệu của tính “hoạt động tâm tính”.

Thuộc loại “hoạt động”, kẻ nào thêm phấn khởi khi gặp trở ngại, thuộc loại “vô hoạt” kẻ nào ngã lòng trước trở ngại.

Người “hoạt động” thường có những đặc tính sau : có một nhu cầu bộc phát cần hoạt động, ít khi ở không nhưng, bắt tay vào việc một cách mau lẹ, có bổn phận gì thì làm liền, cương quyết, bền chí, khéo léo, suy nghĩ, đúng giờ, quan sát giỏi…

Người “vô hoạt” : trễ nải, trì hoãn công việc, ít hăng hái trong việc làm, thối bước trước cản trở…

Tính không hoạt động (inactivité) và sự nghỉ ngơi của tính hoạt động (détente de l’activité) cấu thành tính “phản hoạt động” (contre-activité).

Nếu đến cùng độ thì người ta “vô hoạt động”, không thể làm gì được. Tuy nhiên không ai đạt tới giới hạn này.

ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT NĂNG
TRÊN ĐỜI SỐNG TÂM LÝ

Hoạt năng là của quí của tính tình. Nó giúp con người về khả năng tìm kiếm, công tác, thi hành. Theo Heymas thì H hợp với vC giúp trí khôn rất nhiều, theo cường độ H tăng và C giảm.

Hậu quả chính là : Hoạt năng đem đến những quyết định một sức lực đang ở trong trạng thái bất định. Ta thấy người loại “hoạt động” thường là có tính tình cương quyết, quyết định mau lẹ cả trong những trường hợp khó khăn. Cách riêng, hoạt năng khích lệ thêm cái đà đang đi, thích những tâm tình lạc quan, óc toán, vẽ, nghệ thuật, diễn thuyết… Còn tính “vô hoạt”, trái lại, làm cho tinh thần tê liệt, giảm bớt động lực của sự bùng nổ cảm tình có lợi cho việc thụ hưởng nội tâm và thụ động. Cũng vì thế, nó biến các hành động thành những hoạt động trong tưởng tượng. Vì thế, tính “vô hoạt” thích giữ những tập tục, không thích những sáng kiến mới khả dĩ có thể phá rối các tập quán cũ.

HƯỞNG NĂNG

Để giải thích khái niệm “vang dội” (retentissement) chúng ta dùng ví dụ sau :

Gặp một tai nạn lưu thông, tức nhiên sẽ có một số hiệu quả phát sinh ra trong đầu óc chúng ta suốt thời gian tai nạn đó còn nằm trên phần tri thức. Nhưng hiệu quả này xảy ra “trong khi” sự kiện nguyên nhân hãy còn ở trong phần tri thức của ta, gọi là sự “vang dội tiên khởi”, hay là “ảnh hưởng sơ khởi” của sự kiện. Nhưng sau đó, khi sự kiện đã rơi vào tiềm thức, nó vẫn còn gây những hậu quả khác nữa, có khi sau mấy năm trời. Nhưng hậu quả sau này cấu thành sự “vang dội nhị cấp” hay “ảnh hưởng nhị cấp” của sự kiện.

Tổng quát, ta có một sự kiện xảy ra ; khi nó còn ở phần tri thức thì nó gây một số ảnh hưởng tức thì trong ta, gọi là “ảnh hưởng sơ khởi” ; sau khi nó rơi vào tiềm thức, nó vẫn tiếp tục “vang dội trong ta”, ảnh hưởng trên cách cư xử, suy nghĩ, tóm lại nó gây những hiệu quả “hậu thời” (posthume), tác động này mang tên là “ảnh hưởng nhị cấp”.

Hưởng năng hiểu như trên gọi là tính “thử” (secondarité). Kinh nghiệm cho thấy rằng tác động của những sự kiện đều được ghi khắc sâu đậm, ít hay nhiều, vào ý thức của con người, hay nói cách khác, vào đời sống của họ. Như thế, muốn biết hưởng năng của một người, cần quan sát phản ứng của họ trước một sự kiện dễ xúc động phần nào, tỉ như lời lăng nhục : có kẻ phản ứng lại tức thì (sỉ nhục lại…) để rồi lại quên mau chóng, còn có kẻ thì hầu như là không hay biết gì cả sự kiện xảy ra, thế mà mãi mấy năm sau mới có một phản ứng đối lại sự kiện vừa xảy ra.

Trong mọi người, một sự kiện nào cũng gây ra hai ảnh hưởng tất cả. Thuộc loại “sơ”, người nào bị ảnh hưởng sơ khởi nhiều hơn ảnh hưởng nhị cấp ; thuộc loại “thứ”, người nào thường bị ảnh hưởng nhị cấp.

NHỮNG DẤU CHỈ THƯỜNG TÌNH
CỦA HAI LOẠI TÍNH SƠ VÀ THỨ

Loại Sơ thường : sống trong hiện tại, sống theo thời, thiếu mạch lạc trong tư tưởng, thích sự thay đổi, ít bền chí trong cảm tình và các dự án, có những cảm xúc mau tàn.

Loại thứ thường : có những cảm xúc lâu bền, điềm đạm và bình thản, bảo thủ, ngoan cố trong những ý kiến riêng, thủ cựu, bám chặt vào quá khứ, vào những nguyên tác của mình, và đôi khi là nô lệ của thành kiến, thói quen.

Nói đến mức độ cuối cùng, loại Sơ đơn thuần sẽ có một ý thức luôn tự hủy và sống lại vào mỗi giây phút. Còn loại Thứ cực độ sẽ như là bộ máy mà ánh sáng ý thức đã bị dập tắt.

ẢNH HƯỞNG CỦA HƯỞNG NĂNG
TRÊN ĐỜI SỐNG TÂM LÝ

Tính Sơ trao con người cho hiện tại, vì thế nó cho con người sự mềm dẻo, sự nhanh nhẹn trong phải ứng và óc thích nghi. Cũng nhờ đó, nó giúp nhiều trong công việc canh tân, nó giúp dễ chú ý vào sự kiện, sáng suốt trong nhận xét, về phương diện kỹ thuật, nó giúp con người sáng kiến, lòng hăng hái… nó giúp con người chuẫn bị vào nghệ thuật (thơ nhạc…). Nhưng nó khiến con người thiếu mực thước, thiếu khác quan, thiếu óc tổng hợp… Nếu loại Sơ, nhất là khi thêm loại Cảm nữa, phấn khởi mau lẹ, dễ theo ý kiến mới, thì người ta cũng cho họ thiếu bền chí, và thường tự mâu thuẫn với những nguyên tắc chính họ đã nêu lên.

Còn loại Thứ, tính tình này giúp họ về phương diện tổng hợp, óc cứng rắn, chuộng chân thật, thứ tự, óc tổ chức đời sống bản ngã. Tính này giúp con người óc phù hợp, óc chủ quan và biết làm việc với phương pháp. Theo cuộc điều tra, tính này dường như giúp phát triển khả năng toán học, triết học, tổng quát những khoa học trừu tượng, siêu hình : nhưng lại không thích hợp cho nghệ thuật : văn chương, âm nhạc, sân khấu…

PHẦN PHÂN LOẠI

C H T (E A S)

ĐẶC TÍNH

%

Xếp hạng trên 8

Trung bình tổng quát

Luôn luôn chăm chú vào công việc

Thường hay mắc việc

Có khuynh hướng dời lại công việc chỉ định

Kiên trì

Nhận thức nhanh chóng

Có trí nhớ khác thường

Thích những vấn đề xã hội

Thích những vấn đề tôn giáo

Thực tế và tháo vác

Dễ thông cảm và biết trợ giúp

Ích kỷ

Nhiệt tình yêu nước

Thái độ tự nhiên khi giao thiệp

Sốt sắng giữ đạo

Đơn sơ trong cử chỉ

Lịch thiệp và xứng đáng

Sạch sẽ và thứ tự

99,2

83,2

9,7

84,4

58,0

17,2

74,0

84,0

75,5

89,3

6,7

40,7

76,4

34,8

85,8

78,4

81,8

1

1

8

2

3

1

1

1

2

1

1

1

2

1

1

1

1

56,4

47,8

46,6

63,4

52,4

10,9

40,0

39,0

59,5

69,2

21,0

27,7

63,9

16,6

73,8

52,7

65,4

Loại HÙNG (TRẺ EM VÀ THIẾU NIÊN)

C.H.T

Điểm chung của loại HÙNG

Đặc loại

NAM

NỮ

Thái độ tổng quát

Tiến triển của trẻ

Việc làm


Hạnh kiểm

Lợi ích


Ý tưởng

Tâm tình tôn giáo

Xã giao

Có thể bịnh

Thường dè dặt, biết suy xét. Phản ứng mạnh nhưng biết chế ngự, nhiều tự ái.

Lớn lên đều đặn, lớn hơi mau lúc bắt đầu tiền thiếu niên. Trưởng thành sớm.

Thường có công việc làm, làm việc nhiều, bền chí trong sự thực hành ý định.

Có kỷ luật, ham mê thứ tự, đôi khi không chịu nhượng bộ.

Tìm lợi ích tổng quát, ham mê những vấn đề xã hội, lịch sử.

Trí khôn vững mạnh, có nhiều khả năng tổ chức và tổ hợp.

Tâm tình đạo đức sâu xa mãnh liệt, để ý đến các vấn đề tôn giáo.

Nói cách chung rất tự lập, gặp gỡ người lạ lần đầu hơi khó khăn.

Bịnh thần kinh

Có ý chí và tự lập. Phát biểu ý kiến cách thật thà nhưng hơi táo bạo, ưa độc tài, thích điều khiển.

Cao và năng rất mau, tuổi dậy thì tế nhị, có những khó khăn về phương diện luân lý.

Làm việc bền chí, muốn làm được việc với bất cứ giá nào. Thường hay căng thẳng.

Có thứ tự và phương pháp, đôi khi hung bạo và tức giận.

Rất thích đọc sách, thích xếp đặt, phân loại và sưu tầm.

Có óc phát minh, kiến trúc, nhớ dai, dễ suy nghĩ, dễ tập trung tư tưởng.

Có thái độ tự tư, muốn sống đức tin của mình, đời sống nội tâm dồi dào.

Ngoài xã hội dễ có thái độ căng thẳng, gò bó, mau chán kẻ khác.

Bịnh mòn mỏi

Nhút nhát, dễ cảm, ương ngạnh trong khi tranh luận, muốn mình thắng luôn.

Tiến triển bình thường cho đến tuổi dậy thì. Biến động luân lý ở tuổi dậy thì theo chiều hướng riêng của trẻ.

Rất chăm chỉ, muốn đứng nhất luôn. Học hành có kết quả khả quan.

Thường thì có hạnh kiểm tốt, không thích gây chuyện cực lòng.

Ngay từ lúc còn nhỏ đã bận tâm đến những vấn đề xã hội, gia đình và tông đồ.

Có óc tinh khéo, xây dựng, có tài nhận xét và thấu triệt vấn đề.

Cần 1 ý tưởng tôn giáo sâu xa, ham thích những cuộc bàn cãi về tôn giáo.

Thái độ tự tư. Nhưng hiểu kẻ khác, cử chỉ hơi cộc cằn đối với các bạn.

Bị ám ảnh

C H S (E A P)

ĐẶC TÍNH

%

Xếp hạng trên 8

Trung bình tổng quát

Linh động và lăng xăng

Dễ bị kích thích

Hung hăng trong lời nói

Yêu đời

Làm hòa nhanh chóng

Thích thay đổi

Có khuynh hướng làm những dự tính vĩ đại (nhưng không thành công)

Nhận thức nhanh chóng

Thích những vấn đề chính trị

Nói chuyện huyên thuyên

Kín đáo và trầm lặng trong xã hội

Khéo léo trong công việc

Tự mãn nguyện với những tài năng của mình

Thích được để ý

Sẵn lòng giúp đỡ

Thích phô trương

Có khuynh hướng phóng đại, thêm “tiêu muối”

Dễ thổ lộ tâm tình

Yêu thích danh vọng (danh hiệu, huy chương, chỗ đứng…)

77,4

73,2

75,9

50,2

71,6

72,0

29,0

56,0

88,0

71,6

6,2

76,7

51,4

52,9

77,2

73,9

43,2

30,0

52,9

1

2

1

1

1

1

2

2

1

2

8

1

12

1

1

1

1

2

1

40,6

43,6

45,7

35,4

46,1

43,1

18,5

31,0

41,0

64,7

22,9

59,7

39,7

36,8

57,2

55,8

25,8

17,2

36,8

Loại HĂNG (Trẻ em và Thiếu niên)

C.H.S

Điểm chung của loại HĂNG

Đặc loại

NAM

NỮ

Thái độ tổng quát


Sự tiến triển của trẻ

Việc làm


Hạnh kiểm


Lợi ích



Ý tưởng


Tâm tình tôn giáo

Giao thiệp với kẻ khác

Có thể bịnh

Thường bồng bột, hung hăng, hiếu ĐỘNG, vui vẻ ; rất dễ tỏ ra người dễ bị thúc đẩy, bộp chộp.

Lớn lên không đều hòa nhất là khoảng 9 – 12 : dậy thì sớm, đòi hỏi nhiều.

Có thể có sáng kiến, có sức chịu đựng, nhưng không bền chí trong công việc.

Ưa thích kiểu sống trong hiện tại, thiếu thứ tự và đúng giờ ; chống lại kỷ luật.

Lợi ích trước mắt, cụ thể ; thích những trò chơi mau lẹ, hùng hổ.

Trí khôn lanh lẹ, thực tiễn với cụ thể ; óc thực tế phát triển mạnh.

Hướng ngoại, dễ bị các hoạt động nhất thời lôi cuốn.

Thân mật, dễ dàng, tốt với mọi người.

Bịnh thần kinh (mòn mỏi)

Trẻ năng lí lắc và bận bịu luôn ; khó giữ chúng ở yên trong lớp hay ở nhà ; nghịch ngợm, dễ thay đổi, cái gì cũng thích.

Lúc trẻ tuổi bình thường, thích nghi dễ dàng với trường học ; khắt khe với chính mình và kẻ khác.

Làm việc thì mau mắn, muốn thành công tham dự tích cực vào việc lớp.

Chống lại uy quyền la hò phản đối.

Thích những trò chơi nhiều hoạt động : đá banh, bơi lội ; thích đọc sách phiêu lưu, xem phim trinh thám.

Trí lanh lẹ, trực giác, hiểu rõ cái mình thấy.


Hướng về hoạt động hơn là chiêm nghiệm ; làm việc từ thiện, tông đồ.

Độc tài, phô trương, dễ trở thành đội trưởng thích bè bạn.

Đau thần kinh (maniaco – dépressive)

Cử chỉ bên ngoài rất hăng, dễ bị thúc đẩy, sổ sàng, đầy nhựa sống, khó trị, cần khí và khoảng rộng.

Lớn lên mau và không đều, thời trẻ dễ tức giận, mạnh mẽ, cứng cát thời thiếu niên náo động, tìm xúc động.

Rất hoạt động trong lớp ưa thay đổi công việc ; kết quả thay đổi tùy theo môi trường.

Cử chỉ bộc phát, dễ bị thúc đẩy ; vô kỷ luật trong lớp.

Ngay từ lúc còn nhỏ đã bận tâm đến những vấn đề xã hội, gia đình và tông đồ.

Trí khôn mau lẹ, không bền, có khiếu nhận xét đặc biệt về cụ thể và sống động.

Tâm tình đạo đức không sâu, bề ngoài tận tâm quảng đại.

Vồn vã và quyến luyến thái độ bộc phát chân thanh.

Đau thần kinh (dễ bị thúc đẩy)

vC H T (nE A S)

ĐẶC TÍNH

%

Xếp hạng trên 8

Trung bình tổng quát

Đằm thắm và bình tĩnh

Có khuynh hướng bê trễ công việc chỉ định

Khư khư giữ ý riêng

Dè dặt và kín đáo

Dễ hờn dỗi

Khí chất điều hòa

Có khuynh hướng thay đổi, đổi mới

Tuân giữ luật hay nguyên tắc một cách nghiêm khắc

Tự lập trong ý kiến riêng của mình

Suy luận trừu tượng

Thích những khoa học lý thuyết

Thích đồ vật

Khoe khoang và làm dáng

Ít để ý đến vẽ diện bề ngoài

Rất đáng tin cậy

Gan dạ

Đúng giờ giấc

Cởi mở

Kiên nhẫn trong cơn bệnh hoạn

80,9

2,1

67,7

75,4

21,4

72,0

14,0

86,3

83,4

83,0

47,0

67,0

9,3

64,7

85,0

55,1

86,6

3,2

57,2

1

8

1

1

8

1

8

1

1

1

1

1

8

1

1

1

1

8

1

55,8

19,3

40,4

44,7

52,1

44,8

43,1

57,0

58,7

40,0

16,0

42,8

27,4

47,6

57,5

43,9

57,5

17,0

39,0

Loại TĨNH (Trẻ em và Thiếu niên)

vC.H.T

Điểm chung của loại TĨNH

Đặc loại

NAM

NỮ

Thái độ tổng quát

Sự tiến triển của trẻ

Làm việc


Hạnh kiểm


Lợi ích


Ý tưởng


Tâm tình tôn giáo

Giao thiệp

Có thể bịnh

Thường bình tĩnh, điềm đạm, tư chất điều hòa. Biết tự chủ, tự giác.

Sức khỏe yếu ớt, thiếu sức nặng, lớn bề cao, có nhiều sức chịu đựng về thể xác và luân lý.

Có nhiều khả năng làm việc, nhưng không căng thẳng, điều hòa, thứ tự. Có bền chí khi cần đền.

Thích thứ tự, kỷ luật : tuân theo kỷ luật dễ dàng. Có thể câu nệ hình thức.

Ưu tiên dành cho ích lợi chung và người khác. Thích những buổi họp bè bạn (club).

Dựa trên nguyên tắc để suy nghĩ, nhưng luôn dựa trên sự nhận xét khách quan các sự kiện.

Thái độ đạo đức nghiêng về lý trí và hình thức. Xu hướng luân lý (suy phán) trội hơn.

Thái độ có vẻ “lạnh lùng”. Ít biểu lộ ra bên ngoài.

Thần kinh (làm cách máy móc)

Trẻ yên tĩnh, cử động chậm chạp, ít hăng hái nhưng không nhu nhược.

Tiến triển điều hòa, dậy thì không có chuyện gì. Khá thích nghi với đời sống học đường và xã hội.

Làm việc rất chăm, tham dự tích cực trong lớp. Thi hành kế hoạch đến cùng.

Tự nhiên có kỷ luật, vui lòng tuân giữ những chỉ thị.

Thích vài trò chơi, những trò chơi xây cất, thích đọc sách.

Trí khôn chậm, nhưng sâu và chắc. Suy nghĩ có phương pháp, phân tích trước rồi mới tổng hợp.

Đời sống tôn giáo cá biệt, ý thức, không thích biểu lộ ra ngoài.


Cư xử một cách khách quan, đúng mức, nhưng không giả tạo kiểu cách.

Đau vì bị ám ảnh.

Trẻ rất ngoan, cởi mở, tin cẩn.


Lớn mau nhất là khoảng 12 - 13 tuổi. Tuổi thiếu niên bình thường, có biến đổi rõ rệt.

Làm việc chậm nhưng điều hòa và bền bỉ. Tìm cách hoàn thiện công việc.

Thái độ kính cẩn và phục tòng, theo truyền thống, mau có thói quen và tật xấu.

Thích đời sống gia đình, ham thích công việc nội trợ.

Ý nghĩ không linh động, không đặc sắc, có nhiều lương tri. Trực giác thực tiễn đáng kể.

Lòng đạo đức sâu xa, thi hành theo thể thức ước định.

Cử chỉ đơn sơ và nhã nhặn.

Đau vì bị ám ảnh

vC H S (nE A P)

ĐẶC TÍNH

%

Xếp hạng trên 8

Trung bình tổng quát

Kín đáo

Nhất quyết

Có khuynh hướng chỉ tríich

Băn khoăn và lo lắng

Nhận thức nhanh chóng

Thực tế và tháo vác

Quan sát viên giỏi

Ích kỷ

Ngoại giao giỏi trong các công việc

Tinh thần tế nhị

Thiêng liêng (trả lời cứng rắn)

Thích những vấn đề đích xác

Đần độn

Khéo léo

Giỏi về tài ứng khẩu

Giỏi về tài hội họa

Giỏi về tài sinh ngữ

Giỏi về tài học toán

55,8

71,6

57,9

12,6

63,2

81,1

63,2

16,8

27,4

65,3

45,3

91,0

25,3

71,1

31,6

14,7

17,9

16,8

2

1

1

8

1

1

2

1

1

1

2

1

1

2

1

1

1

2

44,7

47,4

46,1

30,7

59,5

52,4

52,2

9,0

20,1

48,7

40,1

43,0

20,6

59,6

18,9

8,2

13,0

9,6

Loại NHU (Trẻ em và Thiếu niên)

VC.H.S

Điểm chung của loại NHU

Đặc loại

NAM



Tin liên quan:
HỌC VIỆN THẦN HỌC LA SAN MỪNG 20-11 [21.11.2018 21:33 | 1384 hits]


Bản để inIn bản tin  Lưu dạng fileLưu bản tin  Gửi tin qua emailGửi cho bạn


Ý kiến của bạn về bài viết:
TÌM HIỂU TÂM TÍNH HỌC
Tên bạn: *  (Ghi đầy đủ Họ và Tên có dấu của bạn)
Email: *  (Địa chỉ Email có thật của bạn)
Thảo luận *
(Vùng Soạn Thảo, nội dung soạn thảo phải rõ ràng, có tính chất phù hợp với nội dung thảo luận theo tin tức trên)

Mã kiểm tra chống SPAM:
Mã kiểm tra chống SPAM

Lặp lại mã kiểm tra: *

Những bản tin khác:
 PHÚT TÂM SỰ VỀ NHÀ GIÁO KITÔ [12.07.2018 15:54 | 1354 hits]
 Giáo Dục Công Bằng [11.05.2009 16:52 | 2929 hits]
 ĐẠO ĐỨC SINH HỌC [18.07.2008 03:17 | 6181 hits]
 TRƯỜNG LA SAN [18.07.2008 02:19 | 3132 hits]



Gửi tin
Lên đầu trang
 
Lời Thánh Gioan Lasan 
Điều quan tâm hàng đầu và là hiệu quả số một của việc anh em cẩn trọng trong công việc tông đồ phải là luôn luôn để ý đến trẻ để ngăn chúng đừng làm bất cứ điều gì, không những chỉ xấu mà thôi, nhưng ngay cả những việc có ít nhiều tính cách mất nết, và giúp chúng xa lánh tất cả những gì có chút bóng dáng tội lỗi .
MR 194,2,2 .
 
Tìm Kiếm 

 
Trung Tâm La San Đà lạt 

ALBUM NHẠC LASAN
Mừng kính thánh Gioan La San
Duy Quyết
Hiến lễ đời con
Diệu Hiền
Gặp gỡ Thiên Chúa
Xuân Trường
Chúa nói yêu con
Duy Quyết
Chúa Giêsu Ngự Trị Lòng Ta
Duy Quyết
19 - La San Đi Tới
18 - Hoa Trái Dặm Trường 5
17 - Chung Tay Tiếp Bước
16 - Hoa Trái Dặm Trường 4
15 - Mái Trường La San
 
Thống Kê 
 Khách: 001
 Thành viên: 000
 Đang truy cập 001
 Tổng lượt truy cập 000000001
 
Lịch Tra Cứu Bài Vở 
Tháng Năm 2021
T2T3T4T5T6T7CN
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31            
 <  > 
Trang Thông Tin của Tỉnh Dòng La San Việt Nam
53B Nguyễn Du, P. Bến Nghé, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
ĐT: 02838229934 - Email Ban Quản Trị : [email protected]

Lên đầu trang