Tin tức » Sứ mạng Giáo dục » Chuyên môn 13.05.2021 23:44
ĐẠO ĐỨC SINH HỌC
® 18.07.2008 03:17 | 6181 hits ®

Xem hình
1. Đạo đức sinh học là gì ?
Bioéthique / bioethics – Bios Ethos.
Đạo đức của những người làm việc trong ngành sinh học.
Đạo đức về sự sống ở giai đoạn đầu và giai đoạn cuối.
2. Tại sao có vấn đề Đạo đức sinh học ?

TỈNH DÒNG VIỆT NAM

Thường huấn 13.01.02

Sh. Hoàng Gia Quảng

ĐẠO ĐỨC SINH HỌC


š ›

Dẫn nhập

  • Tính cách thời sự
  • Chuyện của mọi người

1. Đạo đức sinh học là gì ?

  • Bioéthique / bioethics – Bios Ethos.
  • Đạo đức của những người làm việc trong ngành sinh học.
  • Đạo đức về sự sống ở giai đoạn đầu và giai đoạn cuối.

2. Tại sao có vấn đề Đạo đức sinh học ?

  • Mầu nhiệm của sự sống hay quá trình sinh sản một con người.
  • Những trục trặc và sự can thiệp của y khoa.
  • Những vấn đề được đặt ra.

- Thụ thai bên trong / bên ngoài.

- Thụ tinh trong ống nghiệm.

- Phá thai.

- Mang thai hộ.

  • Chết êm dịu
  • Nhân bản vô tính

3. Vài cơ sở suy tư

  • Cơ sở triết học
  • - Lấy con người làm cứu cánh

    - Các quy tắc xã hội phải tuân theo.

    - Phải luôn luôn theo lương tâm.

    - Một sự kiện không bao giờ tự nó có giá trị quy chiếu.

    - Phải nắm được cả ý nghĩa lẫn hướng đi khách quan của việc làm.

    - Ý định là quan trọng xong không phải là tất cả.

    - Phải quan tâm tới chiều kích cộng đồng của hành vi.

  • Cơ sở thần học
  • - Tạo dựng.

    - Nhập thể.

    - Thập giá – Cứu chuộc.

    - Phục sinh.

    - Hiện xuống.

4. Thế nào là con người ?

5. Thế nào là sinh sản ?

6. Nhận định đạo đức về sự sinh sản với sự trợ lực của y khoa

7. Chết êm dịu.

8. Các văn kiện chính của Giáo hội.

Thông điệp Humanae Vitae 1968

Huấn thị Donum Vitae 1987

Thông điệp Evangelium Vitae 1995

Giáo lý của Hội thánh (cả tối thứ sáu : số 2331 – 2400)

ĐẠO ĐỨC SINH HỌC

Dẫn nhập

Theo chương trình thường huấn, chiều nay chúng ta sẽ cùng nhau học hỏi về Đạo đức sinh học.

Đây là một vấn đề khá mới mẻ với chúng ta mặc dầu Công đồng Vatican II có nói tới phẩm giá của con người, của sự sống trong Hiến chế Gaudium et Spes và sau đó, có Thông điệp Humanae Vitae 1968 của Đức Phaolô VI về vấn đề điều hòa sinh sản. Các tiến bộ y khoa cùng các thay đổi xã hội mau chóng làm người ta đứng trước nhiều sự kiện mà những người quan tâm tới con người và tới xã hội không thể làm ngơ. Chúng ta nghe các báo đài nói về các chương trình kế hoạch hóa gia đình, về các thành công của nhóm bác sĩ BV. Từ Dũ trong việc thụ tinh trong ống nghiệm về con cừu Dolly, về viễn tượng nhân bản vô tính con người, về việc quốc hội Hòa lan thông qua đạo luật cho phép các Bác sĩ được giúp bệnh nhân chết êm dịu…

Quả là một vấn đề có tính thời sự. Và cũng là chuyện của mọi người nữa. Thật vậy, đạo đức sinh học không phải là đạo đức của các bác sĩ, y tá – mà chúng ta gọi là y đức. Các bác sĩ khi ra trường, phải lập lại lời thề của Hippocrate, ông tổ ngành Tây y, cam kết hết mình phục vụ người bệnh, chỉ tìm ích lợi của bệnh nhân. Đạo đức sinh học hẳn liên quan tới các bác sĩ dĩ nhiên, nhưng cũng liên quan tới các triết gia, các nhà nhân học, thần học, xã hội học, các nhà chính trị… nghĩa là tất cả những ai quan tâm tới con người, muốn có một cái nhìn đứng đắn về con người.

Xét như vậy thì chúng ta quả là có lý do để chọn Đạo đức sinh học làm đề tài học hỏi vì chúng ta là những nhà giáo dục, chúng ta có tham vọng hướng dẫn giới trẻ trên con đường nhân bản và Kitô. Thật là đáng tiếc nếu chúng ta chẳng có gì để nói cho chúng về những gì chúng thắc mắc.

Sau hết, Đạo đức sinh học cũng là vấn đề của những người không chuyên môn, của mọi người. Vì một lúc nào đó, chúng ta có thể phải đối mặt với những vấn đề cuộc sống thực tế đặt ra cho mình hay cho một người thân. Ví dụ : tôi bị ung thư ở giai đoạn di căn, tôi liệt giường đã vài tháng nay, có người gợi ý cho tôi xin đi ngoại quốc chữa… tôi nghĩ sao ?

Một cặp vợ chồng vô sinh được gợi ý chữa trị bằng việc truyền một tinh trùng xin của người khác vào tử cung người vợ. Phải nghĩ gì ?

Trong bài nói chuyện này, tôi không có ý trình bày cái gì được phép, cái gì bị cấm. Theo tôi, cái quan trọng là tìm hiểu, vì thế tôi sẽ thử định nghĩa Đạo đức sinh học là gì – sau đó, trả lời câu hỏi : tại sao có vấn đề Đạo đức sinh học ? để rồi đưa ra vài cơ sở triết học, thần học giúp cho chúng ta có một nhận định thích đáng.

Nếu có thời giờ, chúng ta có thể tiếp tục suy tư thế nào là con người ? thế nào là sinh sản ? vì các can thiệp y khoa được thực hiện trên con người và liên quan tới việc sinh sản.. Chúng ta có thể đưa ra vài nhận định đạo đức về sự sinh sản với sự trợ lực của y khoa và về việc giúp cho chết êm dịu.

1. Đạo đức sinh học là gì ?

Thuật ngữ dịch từ bioéthique – Bios – Ethos : Sự sống – Đạo đức. Đạo đức của những người làm việc trong ngành sinh học (biologie)…

Đạo đức về sự sống ở giai đoạn khởi đầu (thụ tinh, mang thai, sinh sản) và ở giai đoạn cuối (bệnh nan y, hôn mê lâu).

2. Tại sao có vấn đề Đạo đức sinh học ?

Có vấn đề vì có những sự kiện đặt ra buộc phải tìm ra những nguyên tắc hành xử sao cho thích đáng.

Để hiểu, chúng ta cùng xem lại cái mà người ta có thể gọi là quá trình, là chu kỳ hay là mầu nhiệm của sự sống tùy theo mình muốn hàm ý gì khi dùng từ nay hay từ kia. Quá trình, chu kỳ gợi ý thái độ khách quan của người đứng ngoài quan sát, mầu nhiệm bao hàm một sự ngạc nhiên, một sự thán phục trước một sự kiện mà mình không nắm hết được ý nghĩa.

2.1. Chúng ta đều biết con người là kết quả của một cuộc gặp gỡ giữa tinh trùng và trứng.

Tinh trùng được sản xuất trong cơ thể con người nam, chứa trong tinh hoàn, được phóng ra (phóng tinh, xuất tinh) kèm theo một chất nhờn gọi là tinh dịch. Tinh trùng gồm một cái đầu to bằng 50/10.000 ly và một cái đuôi dài 5/10.000 ly. Trong đầu có một cái nhân chứa 23 nhiễm sắc thể AND (acide desoxiribo nucléique), các yếu tố di truyền sẽ được truyền qua đứa nhỏ và ấn định giới tính của nó đồng thời thiết lập quan hệ phụ tử.

Trứng được sản xuất trong cơ thể người nữ, nơi buồng trứng. Buồng trứng, một cách định kỳ, phóng trứng ra (trứng rụng), lúc đó nó sẵn sàng cho việc thụ tinh. Trứng có một cái nhân, chứa 23 nhiễm sắc thể giới tính. Tế bào trứng tương đối lớn 2/10 ly đường kính, một buồng trứng có tới 200.000 trứng non, nhưng đa số lớn lên bị thoái hóa chỉ còn khoảng 40.000. Trứng bắt đầu chín và rụng vào tuổi dậy thì, trung bình mỗi tháng một trứng rụng, có khả năng thụ tinh.

Bình thường tinh trùng được phóng ra lúc giao hợp : người ta ước lượng mỗi lần phóng tinh có tới vài trăm triệu hay cả tỷ tinh trùng được phóng ra. Chúng sẽ theo âm đạo vào cơ thể người đàn bà và nếu là lúc trứng rụng, chúng sẽ tìm cách xâm nhập vào trứng. Chỉ có một tinh trùng xâm nhập được. Hai nhân kết hợp lại thành một tế bào, trong vòng 12-24 giờ. Đó là việc thụ tinh. Trứng sẽ di chuyển tới cổ tử cung, bám vào thành tử cung làm ổ ở đó. Tế bào sẽ phân hóa : vừa nhân ra làm 2 tế bào, rồi làm 4, làm 8 tế bào v.v… đồng thời có khả năng phân công thành tế bào máu, da, xương v.v… Lúc này tế bào được gọi là phôi, phôi lớn dần. Để có một ý niệm :

Ngày 14 phôi dài 2 ly, lớn như hạt nhỏ nhưng có thể ghi được tiếng tim đập.

Ngày 26-28, 2 cánh tay và 2 cẳng chân xuất hiện.

Ngày 30 : phôi dài 1cm

7 tuần sau : có thể thấy bàn tay, ngón tay : người ta đã có thể lấy dấu tay của công dân tí hon.

8 tuần thai được 3cm, tay chân xương sống đã thành hình.

10 tuần : lông mày, cơ quan sinh dục xuất hiện.

11 tuần thai đã biết ngủ và thức giấc khi có tiếng động.

12 tuần thai dài 10cm, nặng 35p.

Sau 14 tuần : hình người đầy đủ, rõ ràng.

Sau 17 tuần : dài 20cm, nặng 140p.

Năm tháng tóc mọc, có thể làm điện tâm đồ – thai nhi dài 30cm, nặng 500gr – có thể sinh ra (đẻ non) có thể sống được.

Đây là quy trình bình thường của sự thụ thai (tự nhiên) quy trình của đa số.

2.2. Nhưng cũng có những trường hợp trục trặc trong việc thụ thai.

  • Tinh trùng có vấn đề : quá ít, quá yếu để gặp được trứng, xâm nhập trứng (hành trình vất vả, khó…)
  • Trứng có vấn đề : trục trặc ở buồng trứng, ở vòi, ở cổ tử cung.
  • Việc giao hợp không thực hiện được vì nhiều lý do : thể lý, bệnh lý, tâm lý…

Do đó phải nhờ tới sự trợ giúp của y khoa :

  • Thuốc cho người nam / nữ.
  • Truyền tinh nhân tạo bằng cách lấy tinh trùng của người nam cấy vào dạ người đàn bà – ở đây có nhiều ca :

- Lấy tinh trùng chồng cấy vào dạ vợ.

- Lấy tinh trùng người khác cấy vào dạ người vợ.

- Dùng tinh trùng chồng cấy vào dạ một người phụ nữ mang thai hộ.

- Lấy tinh trùng bất kỳ một người đàn ông nào, cấy vào dạ bất kỳ người nữ nào.

Trên đây là chỉ giúp cho việc gặp gỡ tinh trùng và trứng, việc thụ tinh vẫn diễn ra trong dạ một người phụ nữ. Nhưng có khi sự thụ tinh đó không thành công, người ta phải cho thụ tinh ngoài dạ người nữ (thụ tinh nhân tạo) bằng cách lấy tinh trùng người đàn ông và trứng người đàn bà cho vào ống nghiệm rồi tạo điều kiện, kích thích chúng kết hợp. Đây là cái gọi là thụ tinh trong ống nghiệm, hiện được áp dụng ở BV. Từ Dũ. Sau khi thụ tinh, người ta chờ vài ngày rồi cấy cái phôi vào tử cung người đàn bà.

Người ta thường cho thụ tinh trong ống nghiệm một số trứng, người ta sẽ nuôi các trứng thụ tinh, chọn 3 cái cấy vào dạ người phụ nữ, những phôi dư được giữ lại để dùng sau này hay để cho (ngân hàng trứng thụ tinh / phôi) hoặc để dùng vào các cuộc thí nghiệm (thí nghiệm trên phôi) hoặc vứt đi.

2.3. Những vấn đề sẽ được đặt ra ?

Xét việc thụ thai tự nhiên (bên trong) với sự giúp đỡ của y khoa (đưa tinh trùng người chồng vào dạ người vợ giúp cho việc thụ tinh) không phải không có vấn đề, xong nhẹ hơn là dùng tinh trùng người khác để cấy vào dạ người vợ hoặc dùng tinh trùng người chồng cấy vào dạ một người đàn bà không phải là vợ mình.

Bs. Phạm Việt Thanh PGĐ. Bv. Từ Dũ đã kiến nghị cần sớm đưa vào luật bảo vệ sức khỏe người dân để làm hành lang pháp lý với hệ thống văn bản pháp luật bao gồm : cho trứng, cho tinh trùng, mang thai hộ, đa thai, chọn lọc phôi, ngân hàng tinh trùng.

Bs. Trịnh thị Tâm cho biết khoa học kỹ thuật phát triển nhưng luật chưa có, đặc biệt nhiều vấn đề liên quan trong việc cho trứng, cho tinh trùng, mang thai hộ, quyền làm cha, làm mẹ, quyền thừa kế, trách nhiệm nuôi dưỡng… Hiện nay tại TP. HCM đã xuất hiện dịch vụ “đẻ thuê” rất phức tạp khi có tranh chấp xảy ra và cũng không lường hậu quả khi một bà mẹ có thể đẻ thuê nhiều con cho nhiều người khác nhau, vấn đề quan hệ huyết thống sẽ ra sao ?”(Báo cáo tại hội nghị đã đánh giá 10 năm Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân 7.12.2001). Tại BV. Từ Dũ từ tháng 8-1997 đến nay đã có 350 trẻ em ra đời từ phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm và mỗi ngày từ 150 tới 200 người đến xin nạo thai, phá thai, tái khám sau khi đặt vòng. “Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới trên một triệu trường hợp mỗi năm” (Tuổi Trẻ 25.12.2001 Một ngày ở phòng kế hoạch hóa gia đình).

Việc thụ tinh trong ống nghiệm còn đặt ra nhiều vấn đề hơn : ngoài tính cách sống không tự nhiên của việc thụ tinh, còn vấn đề các phôi dư : vất đi ? sàng lọc ? dùng để thí nghiệm ? giữ trong tủ lạnh để dùng khi cần ? Phải nghĩ gì về những cách làm này ? Vấn đề được đặt ra cho các nhà lập pháp nhưng cũng được đặt ra cho lương tâm của mỗi người, cho đạo đức.

Một số vấn đề khác trong phạm vi sự sống ở giai đoạn đầu.

  • Trường hợp một phụ nữ mang thai vì bị cưỡng bức.
  • Trường hợp một phụ nữ mang thai mà không muốn có con vì lý do sức khỏe, tâm lý, kinh tế…
  • Trường hợp một phụ nữ mang thai mà qua siêu âm phát hiện thai nhi mang khuyết tật hay có cơ mang bệnh.
  • Trường hợp một phụ nữ mang thai, bác sĩ tiên liệu sẽ sinh nở khó khăn, khó an toàn cả mẹ lẫn con.

2.4. Trên đây là những vấn đề có thể đặt ra ở giai đoạn đầu cuộc sống, ở giai đoạn cuối ; người ta có thể chết vì già… chết vì bệnh… Khi thời gian bệnh kéo dài… đau khổ quá lớn… cơn hôn mê sâu và lâu thì phải làm gì ? Có thể giúp chấm dứt cho mau tình trạng đó không, đó là vấn đề giúp cho người bệnh ® chết êm dịu.

2.5. Gần đây lại có vấn đề nhân bản vô tính :

Nhân bản vô tính là gì ? Tháng 2.97, một nhóm nhà nghiên cứu sinh học ở Edinburgh, Scotland, cho ra đời một con cừu đặt tên là Dolly. Đặc biệt là con cừu này không phải là kết quả của một sự phôi giống.

Thông thường, muốn có một con cừu con, cần có sự phối hợp giữa tinh trùng của một con cừu đực và trứng một con cừu cái. Nhưng ở đây, người ta lấy một cái nhân một tế bào của một con cừu trưởng thành đem cấy vào trứng của con cừu cái đã loại bỏ nhân, để tạo ra một phôi, rồi cấy phôi đó vào tử cung một con cừu cái mang thai đẻ giùm.

Phương pháp này gọi là nhân bản vô tính vì tạo ra nhiều cá thể giống cá thể gốc, cùng gien di truyền trong khi nhân bản hữu tính tạo ra nhiều cá thể mới có cả gien bố lẫn gien mẹ.

Tháng 2.1999, một nhóm giáo sư Đại học quốc gia Đại Hàn đã thành công trong việc sinh sản vô tính một con bò sữa và trở thành quốc gia thứ năm thành công trong việc nhân bản thú vật bằng phương pháp cloning.

Tháng 8.2000, một tế bào của cơ thể con người cũng được cấy thành công thành phôi. Nhóm cũng thành công trong việc phân đoạn một cái trứng đã thụ tinh ở giai đoạn phôi, cái trứng thụ tinh này có được, nhờ cầy một tế bào lấy từ tai một người đàn ông 36t vào trứng của một phụ nữ. Nhóm đã đăng ký bản quyền phương pháp với 15 quốc gia trong đó có Hoa kỳ.

Ít ngày sau, một nhóm bác sĩ Đại Hàn khác loan báo thành công trong việc tách rờinuôi dưỡng một tế bào gốc lấy từ phôi đông lạnh… Tế bào gốc là một tế bào cơ bản, nó có thể lớn lên, nhân ra ở bất kỳ bộ phận nào trong cơ thể. Khi cấy tế bào gốc vào các bộ phận bị hư, nó có thể đưa tới chỗ phục hồi chức năng các cơ quan bị tổn hại, chẳng hạn chữa bệnh điên bằng cách lấy tế bào gốc cấy vào não bệnh nhân.

Người ta đặt nhiều hy vọng vào việc nhân bản có tính điều trị để chữa các bệnh như tiểu đường, ung thư máu, điên v.v… Và người ta còn đi xa hơn, người ya đã nêu câu hỏi : Nếu người ta thành công trong việc nhân bản vô tính thú vật, có thể nhân bản vô tính người không ?

Phải nghĩ gì ?

Trên đây là một số sự kiện đang diễn ra làm người ta không thể không quan tâm. Tôi đọc trong báo chí :

Những xưởng sản xuất trẻ em ở California (Thanh niên)

Sinh vô tính bộ phận cơ thể người, nên hay không ? TGM 10/12

Chữa vô sinh, TG mới 29/10.

Khả năng tái sinh kỳ diệu của động vật TGM.

Nhân bản sinh sản và nhân bản điều trị Tuổi Trẻ CN 19/8.

Nhân bản người và vấn đề đạo đức Công giáo Dân tộc 7.9.2001.

Cloning và phẩm giá con người Asia Focus.

Cloning where do you draw the line ? Time 13.8.2001 “Của chuột và của người” ?

3. Vài cơ sở suy tư

Phản ứng tự nhiên là hỏi có được phép không ? Có bị cấm không ? Nhưng mọi người phải cố gắng suy tư, phải tự mình suy nghĩ, không thể khoán trắng cho người khác suy tư hộ. Đạo đức đòi hỏi điều đó, nhưng tự mình không có nghĩa là ai muốn nghĩ làm sao thì nghĩ, không dựa vào đâu cả.

Tôi muốn nêu lên vài cơ sở triết học và thần học để giúp chúng ta định hướng.

3.1. Nguyên tắc triết học

3.1.1. Mọi mệnh lệnh dứt khoát

Coi con người như một cứu cánh. Toàn bộ luân lý đặt cơ sở trên quyết tâm tôn trọng con người, tất cả con người và tất cả mọi người. Các triết gia từ Kant đã có thói quen quy chiếu về cái quyết tâm mà Kant gọi là “mệnh lệnh dứt khoát”. Có hai cách diễn tả mệnh lệnh đó :

a. “Hãy hành động làm sao để phương châm ngươi theo, mọi người khác có thể ứng dụng” – nghĩa là cái gì thúc đẩy, hướng dẫn tôi làm trong cụ thể, phải có thể thúc đẩy, hướng dẫn người khác trong cùng một hoàn cảnh, như vậy con người luôn luôn được tôn trọng. Đằng sau nguyên tắc triết học này có lời Chúa dạy : “Hãy đối xử với người khác như mình muốn người ta đối xử với mình” – Nho giáo cũng bảo : “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”.

Chúng ta đọc được nguyên tắc này trong phản ứng thường gặp : “Nếu mọi người như mày (như nó) thì làm sao sống được ?”. Một thiếu nữ cãi vã với một thiếu phụ vì chuyện chen lấn lấy xe ở bãi giữ xe, đã đợi người kia ra về, lấy xe đuổi theo và tông vào xe làm người kia té đập đầu xuống đất, chở đi Bệnh viện và chết vì bị chấn thương sọ não, để lại hai đứa con thơ. Ra tòa, cô ta khóc lóc ăn năn nói mình chỉ hành động vì nóng nảy chứ không cố tình, Tòa phán : Chị ăn năn thì đã muộn… Nếu tất cả mọi người đều hành động như chị thì làm sao sống trong xã hội ?

Người ta có thể lập luận : Không có hoàn cảnh chung, chỉ có hoàn cảnh riêng, mỗi người sẽ tùy nghi xử thế. Nhưng nếu không có nguyên tắc chung, người ta sẽ đi tới chổ tùy tiện.

b. Một cách diễn tả khác, đó là : “Đừng bao giờ coi mình hay coi người khác chỉ là phương tiện, là công cụ, mà luôn luôn phải coi mình, coi họ là cứu cánh”.

Phải nghĩ gì về các bác sĩ “nuôi” bệnh nhân, về các thầy cô “nuôi” học sinh… về các viên chức, cán bộ… sẵn sàng để cho người ta “mua”. Chính phủ ra chỉ thị cấm biếu xén trên mức tình cảm – mà lấy gì đo mức tình cảm khi não trạng phổ biến là não trạng “mua”, “bán”, “xin”, “cho”. Bao lâu không thay đổi não trạng, cách nhìn các giá trị thì cơ cấu không mấy hữu ích.

3.1.2. Mỗi xã hội sẽ diễn dịch nguyên tắc tôn trọng con người thành các quy tắc cụ thể. Các quy tắc phải được tuân theo nhưng chúng không có giá trị như nhau.

Nguyên tắc tôn trọng con người nếu không đi vào cụ thể, sẽ không giúp gì mấy cho các vấn đề cụ thể, ví dụ một phụ nữ rất đau khổ vì cảnh hiếm muộn, muốn dùng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, bác sĩ có nên nhận lời không ? làm thế có tôn trọng con người của người phụ nữ, của đứa bé tương lai, của người chồng không ? Vì vậy mà các xã hội soạn ra các luật lệ cụ thể cho thấy các giá trị phải bảo vệ và vạch ra con đường phải theo dựa trên kinh nghiệm của các thế hệ. Các luật lệ, quy tắc giúp mình mở rộng tầm nhìn để không khép kín mình vào những ấn tượng, cảm xúc nhất thời… ví dụ luật hôn nhân không cho phép sống chung không giá thú, ngoại tình v.v…

Nhưng những quy tắc không có giá trị như nhau do đó phương pháp tránh thai nhằm ngăn cản việc thụ thai ít có vấn đề hơn phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm.

Các quy tắc không phải là những “recettes” cứ nhắm mắt áp dụng cần phải hiểu ý nghĩa.

3.1.3. Phải luôn luôn hành động theo lương tâm

Các quy tắc cụ thể cần xong không đủ để lấy một quyết định có tính cách đạo đức – vì mỗi hoàn cảnh đặc biệt, nó có thể có những ngóc ngách làm cho lương tâm sai lầm. Một bác sĩ trước một bệnh nhân hôn mê, không thể nói trước cách chắc chắn về sự gì sẽ xảy ra cho con bệnh và cho thân nhân, nhưng ông lại phải quyết định theo lương tâm. Nhưng lương tâm phải được soi sáng và chỉ có thể đáng tin cậy nếu ông vẫn hành động như một người biết tôn trọng con người nơi người khác và cố gắng tìm hiểu các nguyên tắc y đức, đạo đức sinh học. Thói quen đó sẽ tạo nên một thái độ, một não trạng giúp giải quyết các tình trạng cụ thể theo hướng bảo đảm nhất.

Cần phối hiệp ba nguyên tắc trên : lấy con người làm cứu cánh, tuân theo luật xã hội và phải hành động theo lương tâm. Lương tâm cấm thì không được làm, lương tâm dạy thì có thể không theo.

Nếu chỉ giữ nguyên tắc một thì sẽ rơi vào một thức đạo đức không tưởng quá lý tưởng, trừu tượng, không thực tiễn, không giúp giải quyết các vấn đề cụ thể.

Nếu chỉ giữ nguyên tắc hai thì có thể rơi vào một thứ đạo đức vụ luật, sống theo tập tục truyền thống không đếm xỉa tới các thay đổi hay tính phức tạp của hoàn cảnh.

Nếu chỉ giữ nguyên tắc ba thì có thể rơi vào một thứ đạo đức cá nhân chủ nghĩa.

3.1.4. Một sự kiện không bao giờ tự nó có giá trị quy chiếu nghĩa là có thể nêu lên để biện minh cho một hành vi. Chúng ta biết câu trả lời quen thuộc của một đứa trẻ khi được hỏi tại sao “bứt bông, hái trái cây, cúp cua v.v…”, “tại thằng X… thằng Y làm”. Chủ nghĩa dân tộc quá khích là một sự kiện, không phải vì thế mà tôi phải bài ngoại. Không phải mọi người đều làm giàu bất chính mà tôi cũng phải theo : người ta ai cũng ăn, không ăn là ngu !!!

Một sự kiện chỉ có giá trị quy chiếu nếu nó giúp tôn trọng con người, đề cao các giá trị căn bản của con người.

Áp dụng : Người ta biết rằng 50% phôi do thụ thai bình thường, sẽ bị tống ra ngoài cách tự nhiên. Không phải vì thế mà người ta có quyền trục các thai hay phôi có tật hay hủy bỏ các phôi đông lạnh, viện lẽ bắt chước thiên nhiên.

Áp dụng : khoa học chỉ có thể mô tả lại diễn tiến quá trình làm người, khoa học không đề cập tới vấn đề giá trị vì ngoài thẩm quyền của khoa học nhưng lại tối quan trọng để có thể có một quan niệm đầy đủ về con người. Khoa học bảo lúc nào tế bào phân đôi, phân tư… giai đoạn thành phôi v.v… ngày thứ mấy tim đập, phổi thở óc hoạt động… nhưng không bao giờ khoa học có thể nói được lúc này cái phôi là một con người cần được tôn trọng. Đó không phải là lãnh vực của khoa học, đó là lãnh vực của siêu hình học và của đạo đức học.

Luật Nhà Nước không có tính quy phạm. Chúng ta nghĩ gì khi luật buộc phải giúp đỡ một người đang gặp một cảnh hết sức nguy khốn, luật cấm giết người, nhưng luật lại cho phép phá thai, cho phép giúp người ta chết êm dịu…? Luật cho phép ly dị phá thai nhnưng lại trợ cấp gia đình đông con !

3.1.5. Phải tự vấn về ý nghĩa lẫn hướng đi khách quan của việc làm

Ví dụ : một phụ nữ yêu cần được phá thai : ý nghĩa của yêu cầu phá thai là không muốn có con – hướng đi khách quan của việc phá thai : phạm tới sự sống không tôn trọng con người.

Ví dụ : một cặp vợ chồng xin được áp dụng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Ý nghĩa : muốn có con như các cặp khác – hướng khách quan : khó khăn phải vượt qua, khả năng thành công không cao, số phôi dư…

3.1.6. Phải chú ý tới ý định của người làm hành vi nhưng không chỉ ngưng lại ở đó

Ví dụ : Một bác sĩ muốn cho người bệnh bớt đau khổ nên chiều ý ông ta và giúp ông ta chết êm dịu, ý ngay lành nhưng không đủ để cho hành vi đó ra tốt vì những hậu quả của hành vi đó cho người khác và cho xã hội.

Một phụ nữ muốn có con trong khi chồng bị chứng vô sinh, bà ta xin được truyền tinh của một người khác. Ý tốt : có con, nhưng một việc như vậy có tính cách xây dựng cho đứa nhỏ sinh ra, cho xã hội không ?

Chỉ dựa vào ý ngay lành có nguy cơ rơi vào cá nhân chủ nghĩa và tỏ ra ngây thơ vì các ý muốn của chúng ta không luôn luôn ngay lành như chúng ta nghĩ, dễ có ảo tưởng…

3.1.7. Phải quan tâm tới chiều kích cộng đồng của các hành vi của chúng ta

Không ai là một hòn đảo. Hành vi của chúng ta có hậu quả trên những người chung quanh, tác động trên cách suy nghĩ người khác.

Ví dụ một người phụ nữ có thai siêu âm biết cái thai bị sứt môi, sứt môi là một tật chữa được, nhưng bà ta nhất định phá thai. Hành vi này sẽ tác động trên tập thể, làm cho người ta quen đi và chấp nhận việc phá thai (bên Pháp 5 người mang thai thì 1 người phá thai) vì có một khuyết điểm nào đó – có con nhưng phải có con như mình muốn (nếu tôi muốn con trai mà thai nhi lại là con gái ! – nếu tôi muốn có một đứa con cao lớn mà theo dự đoán, đứa bé sinh ra sẽ nhỏ con !…)

Ví dụ : Nếu các bác sĩ được phép giúp bệnh nhân chết êm dịu và việc này trở nên phổ biến thì bệnh nhân sẽ không còn tin tưởng ở bà con, ở các nhân viên y tế, vì họ không còn tin tưởng ở bà con, ở các nhân viên y tế, vì biết đâu họ đang tìm cách cho mình chết cho rảnh. Trước đây, họ chắc chắn gia đình và các bác sĩ sẽ tận tình chăm sóc mình, tìm mọi cách cứu mình… nhưng bây giờ, họ đâm nghi ngờ, họ đâm sợ…

Một số quốc gia đã thông qua những luật lệ rộng rãi về ly dị, phá thai, nhằm giải phóng người phụ nữ. Hậu quả gia đình bị lung lay tận gốc và xã hội bị đe dọa. Ai cũng biết các nước Âu châu dân số ngày một giảm, với các tiến bộ y khoa người ta sống lâu hơn nên người già ngày càng nhiều mà người trẻ thì ít, để có nhân công phải cho người nước ngoài nhập cư… người ta có thể thấy được những vấn đề đặt ra.

Bên Pháp cứ 5 cặp kết hôn thì 3 cặp ly dị sau một vài năm. Cứ 5 người phụ nữ mang thai thì 1 người phụ nữ phá thai. Và người ta đã đi tới chỗ vẫn duy trì luật cho phép ly dị, phá thai nhưng lại khuyến khích các gia đình nên có nhiều con bằng cách trợ cấp cho gia đình đông con, cho người chồng được nghỉ một số ngày để lo cho vợ mới sinh, từ lâu đã có luật nghỉ hộ sản cho người vợ, bây giờ (2001) luật được nới rộng cho chồng. Pháp có diện tích gấp rưỡi VN nhưng dân số không ¾ dân số VN !

3.2. Cơ sở thần học

Một số xác tín rút từ những mầu nhiệm trong đạo.

3.2.1. Tạo dựng

Từ thuở đời đời, có Thiên Chúa và trong một cử chỉ yêu thương, nhưng không, Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ và con người theo hình ảnh Ngài để giao ước với nó. Từ mầu nhiệm trên, 3 xác tín :

  • Con người có phẩm giá vì là hình ảnh của Thiên Chúa chứ không phải vì những gì mình làm. Phẩm giá con người không dựa trên nhan sắc, của cải, địa vị, chỉ số thông minh nhưng trên sự kiện là người ấy đang có và người ấy có vì người ấy được Thiên Chúa muốn, người ấy được mời đi vào giao ước với Ngài. “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa” (Thánh Âu tinh). Một hữu thể bắt nguồn từ Thiên Chúa và hướng về Thiên Chúa, đó là con người, bất kỳ người nào, dù cho là xấu xí đến đâu đi nữa. Điều này làm ta nghĩ tới những người khuyết tật, xì ke, những bệnh nhân liệt giường liệt chiếu, những người ung bướu v.v… Điều này buộc ta phải từ khước việc loại bỏ các thai nhi không đáp ứng tiêu chuẩn của cha mẹ.
  • Con người là thành phần của vũ trụ, con người được dựng nên từ cát bụi. Con người phải nhớ mình cũng có họ hàng với mọi loài thọ tạo, cho nên mọi hành vi đảo lộn hệ thống sinh thái không nên được khuyến khích.

Thiên Chúa đã truyền cho con người “hãy sinh sôi và làm chủ trái đất”. Đây không phải là quyền cai trị độc đoán của một chủ nhân toàn quyền mà là vai trò của người được đặt làm quản lý vì thế con người phải tùy thuộc vào Thiên Chúa và vào trật tự Ngài đã thiết lập. Với những khác biệt : thời gian thì có trước có sau, các vật thì có các loại, người thì có giới. Quả là không tôn trọng trật tự khi đem đông lạnh cái phôi trong nhiều năm không cho nó thoát phát triển hay không đếm xỉa gì tới sự khác biệt giới tính trong sinh sảnh vô tính chẳng hạn.

Mầu nhiệm tạo dựng mời gọi chúng ta :

- Tạ ơn Thiên Chúa vì đã được tạo dựng và được mời gọi cộng tác với Ngài để cho thế giới này mau trở thành Nước của Thiên Chúa.

- Đồng thời tự vấn xem các kỹ thuật sử dụng có thực sự nhắm tới mục đích trên không, có thực sự giúp con người làm chủ mình và chủ thế giới trong sự tùy thuộc vào Thiên Chúa không ?

3.2.2. Nhập thể

Đây là mầu nhiệm trung tâm của Kitô giáo.

Có thể rút ra một số hệ luận :

- Đạo đức Kitô giáo được coi trọng các thực tại trần thế, cách riêng khoa học, kỹ thuật và đòi phải vận dụng mọi kiến thức để có được một nhận định đạo đức quân bình.

- Vì Thiên Chúa làm người, sống giữa loài người, nên phẩm giá con người và vũ trụ được gia tăng. Mỗi lần con người sử dụng khả năng sáng tạo, chữa trị của mình, con người tôn vinh Thiên Chúa. Khi các nhà nghiên cứu tìm mọi phương thế để cứu giúp người bệnh hoạn, tật nguyền mà vẫn tôn trọng con người, toàn bộ con người, họ ở trong đường lối của mầu nhiệm nhập thể.

- Cũng vậy, Thiên Chúa với chúng ta qua các trung gian : cầu nguyện, suy gẫm Lời Chúa, lắng nghe Huấn quyền, tự vấn lương tâm… trung gian cũng còn là các kiến thức triết học, khoa học, xã hội học, chúng cũng giúp hiểu thực tại. Chẳng hạn trước câu hỏi ở giai đoạn đầu, cái phôi đã là người chưa ? Thánh Kinh thôi không cho ta câu trả lời, còn phải có sự đóng góp của sinh học, triết học, xã hội học, truyền thống người Kitô hữu phải sẵn sàng đối thoại để tìm ra sự thật.

Đạo đức Kitô giáo nhìn nhận giá trị của thân xác

Đạo đức sinh học liên quan tới thân xác vì phải nhận định vè các can thiệp vào thân xác. Thân xác là gì ? Phải tôn trọng thân xác làm sao ? Nhiều sách vở đã tìm cách trả lời cho các câu hỏi đó. Ở đây sự suy tư về mầu nhiệm nhập thể, có thể đem lại cho ta hai xác tín :

  • Phẩm giá của thân xác vì trong Con Một của Ngài, Thiên Chúa đã đảm nhận thân xác cho đến muôn đời… vì thân xác sẽ được sống lại… vì ngay từ bây giờ, thân xác được chọn làm nơi Thiên Chúa ngự, là đền thờ Chúa Thánh Thần. Như vậy, mọi hành vi dù có mục đích chữa trị đi nữa, chỉ muốn coi thân xác như một đồ vật – hay một cái gì rất là thức yếu thay vì chữa lành, cuối cùng sẽ gây bất ổn cho đương sự và trái với đòi hỏi của đức tin Kitô giáo.
  • Thân xác không phải là một vật người ta sở hữu, một dụng cụ mà người ta sử dụng tùy ý hay một chiếc áo mà người ta có thể nới rộng, thu hẹp tùy tiện mà không thay đổi người mặc nó. Những hình ảnh vật sở hữu, dụng cụ, áo mặc có trong những cách nói như “tôi có một thân xác”, “tôi dùng thân xác của tôi”, khi chết người ta bỏ lại thân xác… Những cách nói đó có phần nào đúng : tôi không chỉ là thân xác tôi, thân xác tôi cho phép tôi thực hiện việc này việc kia, thân xác tôi trong chiều kích thời gian – không gian, dưới khía cạnh sinh hóa sẽ được để lại chờ ngày phục sinh. Nhưng cũng cách nói đó dễ làm cho người ta nghĩ đến thân xác như một thực tại bên ngoài con người. Thế nhưng tạo dựng và nhập thể đều bảo chúng ta rằng con người không có ngoài thân xác, hơn nữa một thân xác có giới tính : “là nam, là nữ, Thiên Chúa đã dựng nên chúng” – vì vậy mà trong tư tưởng Kitô giáo, thân xác hữu tính là một chiều kích của con người.

Hệ luận : không được đối xử với thân xác người như thân xác một con thú.

Sự can thiệp trên thân xác càng rộng, càng mạnh, càng gây xáo trộn thì con người càng mất ổn, cảm thấy bất an.

Cách riêng đụng tới các yếu tố di truyền hay phái tính hoặc ngăn cản phôi phát triển bình thường (làm đông lạnh), hay coi nhẹ khía cạnh quan hệ phụ tử mẫu tử đều là những can thiệp gây xáo trộn sâu xa cho con người.

  • Đạo đức Kitô giáo không từ chối hành động trong các hoàn cảnh hàm hồ.
  • Ngôi Lời Thiên Chúa đã không ngại đi vào lịch sử, hội nhập lịch sử của mình vào lịch sử một dân tộc mà chúng ta biết không phải là một dân tốc gương mẫu.

Việc Thiên Chúa giáng trần không chỉ đem lại niềm vui : có một số sự kiện mà người ta gọi là “hậu quả xấu” : việc một số hài nhi bị giết, việc chia rẽ trong các gia đình (Mt 10), việc Phaolô bắt bớ những người theo đạo mới… Ngay cả lời nó, việc làm của Chúa Giêsu cũng không được mọi người đồng tình… Thiên Chúa chấp nhận hành động ngay cả trong cuộc sống tranh tối tranh sáng của con người. Chúa Thánh Thần cũng không làm khác khi phải linh hoạt một giáo hội gồm những con người yếu đuối, tội lỗi.

Đó là một bài học cho chúng ta : không nên nghĩ rằng chúng ta chỉ có thể hành động khi không có một bất toàn nào hay chắc chắn không có một hậu quả không tốt nào. Trong phạm vi đạo đức sinh học như trong phạm vi đạo đức nói chung, quan trọng là phải hành động như người có trách nhiệm – nghĩa là phải suy nghĩ, cân nhắc, khước từ tội lỗi (hành vi cố tình, tha hóa con người), tìm ra cách làm tốt nhất vừa tôn trọng, vừa giải phóng con người khỏi những hàm hồ của cuộc sống. Ví dụ, một người hôn mê sâu, kéo dài mặc dầu đã cố gắng phục hồi, hành động có trách nhiệm là cố gắng tối đa đáp ứng các đòi hỏi của các giá trị khác nhau : Sự sống và sức khỏe của người bệnh, sự căng thẳng tâm lý của thân nhân, công bằng xã hội đòi phải phân phối tốt ngân quỹ dành cho y tế…

3.2.3. Cứu chuộc – Thập giá

Mầu nhiệm Cứu chuộc với Thập giá nhắc chúng ta rằng Ngôi Lời làm người, đã phải đối đầu với quyền lực sự dữ, quyền lực của tội (Ga 1,11). Nhưng Chúa Giêsu đã không sợ đảm nhận các hậu quả của tội, đã chiến thắng tội bằng tình thương.

Có thể rút ra một số bài học.

  • Chiêm ngưỡng Thập giá Chúa Kitô giúp chúng ta ra khỏi được một cái nhìn thơ ngây về con người và về xã hội. Khi người ta quên con người và xã hội mang nơi mình những cơ cấu tha hóa, cơ cấu tội.
  • Thập giá nói lên sự thật về Thiên Chúa : một Thiên Chúa yêu thương đến mức độ “chết để cho kẻ mình yêu” – và sự thật về con người : một con người có thể để cho lòng thù hận chiếm đọat đến mức độ sẵn sàng đóng đinh người vô tội. Tội của cá nhân, tội của xã hội vì cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu đã diễn ra dựa vào các cơ chế luật pháp Do thái và La mã.

Suy gẫm mầu nhiệm Thập giá làm nhà nghiên cứu đạo đức sinh học phải thấy sâu hơn : phải biết rằng việc tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật cho những vấn đề như vô sinh, sự khao khát có con, việc làm cho người bệnh bớt đau khổ… tất cả những việc đó có thể là dấu chỉ của sáng tạo, của tình thương nhưng cũng có thể che đậy một mục đích làm tha hóa con người – thí dụ : phải thực hiện cho được việc sinh sản bằng mọi giá (kinh tế, sinh lý, tâm lý, xã hội) – một ý muốn như vậy có thể bảo là không có vấn đề gì không ?

  • Mầu nhiệm Cứu chuộc bảo ta không nên lẫn lộn giữa cứu độ và sức khỏe.

Ở đây có hai khẳng định cần nắm cả hai mặc dầu chúng có vẻ mâu thuẫn.

  • Sức khỏe thể lý và tinh thần rất quan trọng. Nó hé mở cho thấy Nước Thiên Chúa là Nước của Sự sống, sự sống dồi dào. Phúc âm cho thấy Chúa chữa lành các kẻ tật nguyền như một dấu chỉ Nước Thiên Chúa đã tới.
  • Sức khỏe không phải là tất cả, có sức khỏe tốt không phải là được cứu rỗi. Vì sức khỏe có thể đi đôi với sự tha hóa của tội, phần khác sức khỏe đôi khi phải nhường bước cho các giá trị khác quan trọng hơn, chúng ta thấy cha Damien tới sống giữa người cùi trong một hòn đảo ở Thái Bình Dương… có những tu sĩ lo cho người AIDS.

Sức khỏe không phải là một cái gì tuyệt đối. Có thể vì tình thương, người ta sẽ phải chấp nhận sống trong thử thách, không phát huy hết mọi khả năng… chẳng hạn cha mẹ chấp nhận một đứa con khuyết tật tương lai, một cặp vợ chồng chấp nhận vô sinh hơn là nhờ một phụ nữ mang thai hộ chỉ vì làm thế là biến người đàn bà này làm công cụ.

3.2.4. Mầu nhiệm Phục sinh

Nền tảng Đức Kitô “Nếu Chúa Kitô không sống lại…” Chúng ta tin chúng ta cũng sẽ được sống lại với Chúa và sự sống lại đó đã bắt đầu, đang diễn ra…

Do đó :

Phải tương đối hóa. Cuộc sống nơi trần gian không phải là tất cả cuộc sống – nó chỉ là phác thảo vì thân xác hiện nay của chúng ta sẽ phải chết về mặt sinh học để được một kiểu sống khác mà Thánh Phaolô gọi là sống với một thân xác thần thiêng (1Cr 15). Người Kitô hữu biết mình đang trên đường lữ thứ… mọi sự chỉ là tạm thời hiểu như thế thì có thể chăm sóc người bệnh mà không căng thẳng tìm mọi phương thế để kéo dài một sự sống bị tổn thương nghiêm trọng, vô phương cứu vãn. Cũng vậy, người ta sẽ không tìm mọi cách để có được một đứa con “nối giõi”, tránh cảnh “vô hậu” vì làm thế sẽ không đi vào hướng của niềm tin Phục sinh.

Phải tương đối hóa, đồng thời cũng phải khẳng định, nếu không sẽ có nguy cơ coi thường mọi sự, điều này trái với mầu nhiệm Phục sinh. Nếu niềm tin vào sự sống lại làm tương đối hóa thân xác và đời sống trần gian thì nó cũng khẳng định tầm quan trọng : chính thân xác này, đời sống này sẽ được biến cải chứ không phải loại bỏ, thay thế. Vẫn là con người tôi nhưng với một cách diễn tả, tỏ bày mới. Sự Phục sinh của Chúa Kitô cho phép cậy trông, tin vào tương lai trong bất kỳ lúc nào và trong những hoàn cảnh đen tối nhất của cuộc đời. Lời Chúa nói với người trộm lành : “Ngày hôm nay anh sẽ được ở cùng Ta trên nước

Lasan
(Theo Dòng Lasan Việt Nam)


Tin liên quan:
Dạy chữ đi đôi với dạy người [15.04.2012 13:33 | 2346 hits]
Góc nhìn giáo dục [07.04.2012 09:27 | 2971 hits]
Phương pháp học có hiệu quả nhất [06.06.2011 14:16 | 3064 hits]


Bản để inIn bản tin  Lưu dạng fileLưu bản tin  Gửi tin qua emailGửi cho bạn


Ý kiến của bạn về bài viết:
ĐẠO ĐỨC SINH HỌC
Tên bạn: *  (Ghi đầy đủ Họ và Tên có dấu của bạn)
Email: *  (Địa chỉ Email có thật của bạn)
Thảo luận *
(Vùng Soạn Thảo, nội dung soạn thảo phải rõ ràng, có tính chất phù hợp với nội dung thảo luận theo tin tức trên)

Mã kiểm tra chống SPAM:
Mã kiểm tra chống SPAM

Lặp lại mã kiểm tra: *

Những bản tin khác:
 PHÚT TÂM SỰ VỀ NHÀ GIÁO KITÔ [12.07.2018 15:54 | 1354 hits]
 Giáo Dục Công Bằng [11.05.2009 16:52 | 2929 hits]
 TÌM HIỂU TÂM TÍNH HỌC [18.07.2008 03:01 | 2751 hits]
 TRƯỜNG LA SAN [18.07.2008 02:19 | 3132 hits]



Gửi tin
Lên đầu trang
 
Lời Thánh Gioan Lasan 
Điều quan tâm hàng đầu và là hiệu quả số một của việc anh em cẩn trọng trong công việc tông đồ phải là luôn luôn để ý đến trẻ để ngăn chúng đừng làm bất cứ điều gì, không những chỉ xấu mà thôi, nhưng ngay cả những việc có ít nhiều tính cách mất nết, và giúp chúng xa lánh tất cả những gì có chút bóng dáng tội lỗi .
MR 194,2,2 .
 
Tìm Kiếm 

 
Trung Tâm La San Đà lạt 

ALBUM NHẠC LASAN
Mừng kính thánh Gioan La San
Duy Quyết
Hiến lễ đời con
Diệu Hiền
Gặp gỡ Thiên Chúa
Xuân Trường
Chúa nói yêu con
Duy Quyết
Chúa Giêsu Ngự Trị Lòng Ta
Duy Quyết
19 - La San Đi Tới
18 - Hoa Trái Dặm Trường 5
17 - Chung Tay Tiếp Bước
16 - Hoa Trái Dặm Trường 4
15 - Mái Trường La San
 
Thống Kê 
 Khách: 001
 Thành viên: 000
 Đang truy cập 001
 Tổng lượt truy cập 000000001
 
Lịch Tra Cứu Bài Vở 
Tháng Năm 2021
T2T3T4T5T6T7CN
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31            
 <  > 
Trang Thông Tin của Tỉnh Dòng La San Việt Nam
53B Nguyễn Du, P. Bến Nghé, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
ĐT: 02838229934 - Email Ban Quản Trị : [email protected]

Lên đầu trang